Chúa nhật XXIV Thường Niên, năm C

Bài đọc 1: Xuất hành 32, 7-11.13-14
Bài đọc 2: 1 Ti-mô-thê 1, 12-17
Tin Mừng: Luca 15, 1-32

Ngày 11.09.2001 đã đi vào lịch sử đất nước Hoa Kỳ với hàng ngàn người vô tội bị chôn vùi trong lửa đạn hận thù. Và ngay sau đó đã bùng lên sự căm phẫn không chỉ riêng trong trăm triệu trái tim người dân Mỹ, mà có thể nói được trong cả trái tim mọi con người. Kết quả từ một sự hận thù đó, đã gây ra bao sự mất mát về tiền của và về con người; những mất mát tang thương mà thiết tưởng chỉ những người trong cuộc mới có thể thấu cảm hết nỗi đau khó thể xoa dịu này.

Thế mới hay, đời người thật bấp bênh giữa những vui-buồn, được-mất. Có những điều mất rồi ta có thể tìm lại như tiền của, bạc vàng bằng những giọt mồ hôi do bàn tay lao động; nhưng cũng có những điều mất là hết, là chấm dứt hoàn toàn như sự ra đi vĩnh viễn của những người thân hữu, bạn bè. Nỗi mất nào cũng đều là đau xót, là đứt ruột nát gan, cho dù đó là một sự cảm thông trong đời sống vợ chồng, hay một sự sẻ chia trong tình bằng hữu, nhưng ray rứt nhất, thảm thê nhất vẫn là sự đánh mất chính mình.

Ở Phi châu, có một bộ tộc khá kì lạ, họ không bao giờ đếm, bởi họ không biết gì về toán học. Ngày kia, một du khách hỏi một người dân bản địa rằng anh ta có bao nhiêu con cừu. Anh ta đáp: không biết. Du khách ấy hỏi tiếp: vậy nếu lỡ mất một hai con, làm sao anh biết? - Anh nông dân trả lời thật ý nhị: "Không phải tôi mất một con số, mà mất một bộ mặt".

Mất một bộ mặt đồng nghĩa với mất thể diện, mất danh dự, mất chính mình. Đoạn sách Xuất hành trong bài đọc I hôm nay cũng nhắc đến sự mất mát ấy của dân Do-thái, khi họ đang trong cuộc hành trình tiến về Đất Hứa: « Ngày ấy, Đức Chúa phán với ông Môsê rằng: “Hãy đi xuống, vì dân người đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bò bằng vàng, rồi sụp xuống thờ lạy nó, tế nó và nói: ‘Hỡi Israel, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập » (cc. 7-8). Dân Do Thái đã tự đánh mất chính mình, họ đã đi lầm đường, họ đã mất phương hướng, và phơi bày rõ ràng họ chỉ là một toán người ô hợp, bởi họ đã bội thề, bất trung với điều luật đã được ký kết với Thiên Chúa. Nhưng chính Môsê đã cứu họ, ông đã thay họ khẩn cầu cùng Thiên Chúa thứ tha, hầu cho họ được trở về tìm lại chính mình trong tình yêu thương bao dung của Người. Ông thưa: « Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giân với dân Ngài. Dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài [..] và Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người » (cc. 13-14).
Bài Tin Mừng của thánh Luca, bằng lối nói ngụ ngôn, với cấp độ đi lên đã diễn tả tột đỉnh của nỗi đau mất mát trong đôi mắt yêu thương của Thiên Chúa: từ con chiên lạc (cc. 4-7), đến đồng bạc mất của ngườ phụ nữ (cc. 8-10), cuối cùng là người con thứ đi hoang (cc 11-31). Điều này cho thấy, đối với Thiên Chúa, ai cũng có một phẩm giá riêng biệt. Không phải vì con số 99 quá lớn mà chấp nhận bỏ đi số "1" nhỏ nhoi.

Có thể với một người giàu có thì một đồng bạc nào có nghĩa lý gì, công đâu bỏ ra để bới tìm một đồng cho phí giờ, nhọc thân. Trên thế gian có biết bao nhiêu sinh linh, hà cớ chi phải lao đao vất vả vì một kẻ tội đồ. Chắc hẳn những người biệt phái nghĩ thế. Nhưng Chúa Giêsu nghĩ khác. Ngài ví mình như một người rất nghèo, khao khát tìm lại những gì thất lạc, đợi chờ những tâm hồn sám hối để đưa về với nẻo chính đường ngay. Phải chăng vì « nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở » (Ga 14, 1), hay vì lòng Cha quá quảng đại bao dung mà thêm một tâm hồn lầm lạc trở về thì lòng Ngài lại mừng vui sung sướng: " Bà con hãy chia vui với tôi… (c. 6), Bà con hãy vui mừng cùng tôi… (c. 9), chúng ta phải mở tiệc ăn mừng mới được … (c. 23).

Những câu kết luận này của Luca, khác với Matthêu (Mt 18,14). Trong khi Matthêu nói đến ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, thì văn cảnh của Luca lại có tính cách khuyến dụ: là kêu gọi sự hoán cải nơi người tội lỗi. Bên cạnh đó, hành động ăn mừng cho thấy mức độ lớn lao của niềm vui. Sau khi tìm lại được những gì đã lạc mất, chủ nhân đã ăn mừng và muốn người khác chia sẻ niềm vui với mình. Nghèo hèn như người chăn chiên hay người phụ nữ thì chỉ mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: “ xin chung vui với tôi” ; còn giàu có như người cha trong dụ ngôn Người con hoang đàng thì “ bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để mở tiệc ăn mừng ”.

Ăn mừng, vì đã mất nay lại tìm thấy. Ăn mừng, vì sai lạc nào cũng cần chỉnh đốn, u mê nào cũng cần ánh sáng chiếu soi. Nhưng có thứ ánh sáng nào ấm áp và đẹp cho bằng tình yêu thương. Vì có yêu thương mới có mừng rỡ vác lên vai , có yêu thương mới có thắp đèn tìm kiếm , có yêu thương mới có đợi chờ để thứ tha . Cũng chính nhờ yêu thương mà chiên lạc đã trở thành chiên ngoan và đứa con đi hoang mới tìm lại được mái ấm gia đình trong sự hoán cải.

Hoán cải trong trường hợp này là nhận ra mình đã lầm đường lạc lối. Hoán cải trong trường hợp này là biết rằng mình đã mất quá nhiều, mất hết, và cái mất lớn nhất là đã mất chính mình. Hoán cải ở đây là nhận ra rằng chỉ có tình yêu mới có thể chữa lành, để quay về làm lại từ đầu, quay về tìm lại mình trong chính ngôi nhà mà mình đã một lần rời xa. Hoán cải ở đây là nhận thức mình là kẻ tội lỗi, là như Thánh Phaolô hiểu rằng sự trở về với Đức Kitô của ngài nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa muốn biến ngài thành một mẫu gương, để bất cứ ai tội lỗi hễ nhìn vào tấm gương Chúa đã xót thương Phaolô thì cũng có được niềm hy vọng chắc chắn Chúa xót thương mình. Bởi vì nếu Chúa đã tỏ lòng xót thương một kẻ tội lỗi điển hình như Phaolô, thì Người sẽ không bỏ rơi bất cứ kẻ tội lỗi nào khác. Vì mục đích của Tin Mừng là để cứu những kẻ tội lỗi, cho nên Phaolô dạy Timôthê phải ngăn cấm những kẻ dạy bất cứ giáo lý nào đi ngược với Tin Mừng ấy: « Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo bà ngạo ngược, nhưng tôi đã được Đức Kitô xót thương…, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến […] Sở dĩ tôi được xót thương, là vì Đức Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lương của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời » (Bài đọc II).

Nếu suy nghiệm kỹ bài Tin Mừng hôm nay, ta sẽ nhận ra có một sự nối kết liền mạch rất chặt chẽ với Tin Mừng của các tuần trước. Trong đó, từ Tin mừng của thánh Luca, Giáo hội hướng dẫn chúng ta đi trên lộ trình tiến về Nước Trời (CN 21) bằng sự khiêm hạ (CN 22) và phải bỏ mình (CN 23). Nhưng bỏ mình không có nghĩa là đánh mất mình (CN tuần này), bởi đánh mất chính mình là đầu mối của mọi sự mất mát, là mất tất cả từ của cải vật chất như nhà cửa ruộng vườn, đến những giá trị thiêng liêng như tình cảm gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, như tình làng nghĩa xóm, như tình nghĩa bạn bè,…

Nhìn vào xã hội hôm nay, ta có thể nhận ra có rất nhiều người bị đang bị lạc mất.

  • Là những đứa trẻ không tìm được hạnh phúc trong gia đình nên đi hoang.
  • Là những thiếu niên bị thói xấu xã hội lôi kéo.
  • Là những người nghiện ngập tự vùi lấp đời mình.
  • Là những đôi vợ chồng bất hòa kéo nhau ra tòa ly dị.
  • Là những bà mẹ đành lòng giết bỏ đứa con mình đang cưu mang.
  • Là những anh chị em từ nhau chỉ vì một sự xích mích nho nhỏ hay một mối lợi nào đó.
  • Là những tín hữu yếu đuối, mặc cảm xa lánh gia đình và xứ đạo.

Những con người lạc mất ấy không ở đâu xa, mà có thể đang ở bên cạnh chúng ta, ở giữa chúng ta, thậm chí là ngay trong gia đình chúng ta. Nhưng buồn thay, nhiều người không hề quan tâm đi tìm họ. Còn tôi thì sao?
Lm. Quốc Bảo

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top