( Một sự tình cờ gia đình tôi được biết Bình Giả và không ngờ Bình Giả là Quê hương thứ hai của gia đình tôi). Năm 1975, gia đình tôi chạy loạn từ Đà Nẵng vào đến Sài Gòn, ở đây tôi có người mợ dâu (cậu tôi chết đã nhiều năm) chúng tôi tá túc trong thời gian ngắn khoảng hai tháng thì nhà nước có lệnh tập trung thành phần lính tráng để đi cải tạo. Nhà mợ tôi rất nhỏ, vậy mà chứa cả mấy chục người con cháu ở xa chạy về... Bác gái tôi ở Đà Lạt cũng chẳng khác gì gia đình tôi.

Trước ngày đi cải tạo bố tôi rất lo vì không biết phải sắp xếp gia đình như thế nào. Khi ấy chúng tôi còn nhỏ mà cuộc sống đã quen sung sướng. Bây giờ phải đối diện với thực tế, không nhà, tiền bạc thiếu hụt, tương lai mờ mịt. Bố tôi là trụ cột của gia đình giờ sắp phải đi xa không biết tương lai sẽ ra sao.Ngày bố tôi đi cải tạo nhà nước thông báo. Nếu gia đình đi kinh tế mới thì chồng con sẽ về sớm. Tin tưởng vào lời cam kết, má tôi lập tức đem chị em chúng tôi về Long Thành, ở đây có gia đình ông bà Ngà là bạn rất thân của bố má tôi khi còn ở Đà Nẵng. Thời trước giải phóng, ông bà có mua một số đất để sau bán kiếm lời, không ngờ đó là chỗ ở định cư của ông bà sau này. Thấy má con tôi bơ vơ, ông bà ngỏ ý đưa má con tôi về sống cho vui, chúng tôi không còn sự lựa chọn nào, miễn là có chỗ ở và có điều kiện làm ăn.

Gia đình chúng tôi được ông bà cho ở nhờ một cái chòi giữa cánh đồng, căn chòi được làm bằng đất sét nhồi rơm, ở trong có một cái giường làm bằng nan tre do hai em trai tôi kiếm ở rừng về, nan giường vót không đều nên mỗi khi nằm thật là đau, nấu ăn cũng ở trong chòi. Mấy mẹ con nằm chung một cái chõng tre có hơi chật, nên hai em trai tôi phải làm thêm một cái chõng nhỏ để ngủ riêng. Ban ngày thì còn nhìn thấy vài người làm việc, nhưng đến chiều tối thì thật là sợ, chung quanh thì toàn cây cối rậm rạp, bờ đê cỏ phủ kín. Có lần đi ngoài làng về thấy rắn bò lổm ngổm tôi sợ lắm. Mỗi lần đi đâu về tôi không dám đi một mình, nếu không có ai đi cùng tôi đứng khóc hoặc ngồi đợi. Chòi thì làm gì có cửa đàng hoàng, tối đến chỉ che bằng miếng tôn hoặc miếng gỗ cho đỡ gió. Thế mà chúng tôi đã sống ở đó được vài năm.

Sau khi bố tôi đi cải tạo, gia đình tôi thật khốn đốn. Má tôi phải tìm cánh xoay sở để nuôi chín chị em tôi. Vì quá khổ, má tôi theo người ở trong ấp đi làm ăn xa. Những người quen ở Ấp Hiền Hòa dẫn đưa má tôi đến Ấp Xuân Sơn ( gồm những người Bắc di cư năm 1945) để kiếm đường buôn bán. Vì đất Long Thành khô cằn trồng trọt không được hiệu quả. Đến Xuân Sơn má tôi mua bán quần áo cũ và dụng cụ làm nông, rồi lân la ra Bình Giả. Người Bình Giả thật thà và chất phát, thấy hoàn cảnh gia đình tôi họ rất thương và tận tình giúp đỡ.

Sống ở thành phố đã lâu, nên khi về ở vùng thôn quê chúng tôi thấy bỡ ngỡ, mọi thứ đều lạ với chúng tôi. Thế nhưng với sự nhiệt tình của người Bình Giả, họ đã tạo công việc, chỗ ăn ở, cũng như đất đai để giúp gia đình tôi có một cuộc sống ổn định. Bình Giả hoàn toàn là người công giáo nên ngoài tấm lòng mến Chúa, họ rất là yêu người. Khi chúng tôi đến, họ niềm nở, ân cần, lúa gạo họ đem đến tận nhà, thức ăn tuy không phong phú nhưng họ vẫn chia sẻ với chúng tôi. Ra đường từ đứa bé đến người lớn họ đều chào hỏi rất vui vẻ. Chúng tôi thật cám ơn Chúa vì Ngài đã dẫn đường cho gia đình tôi đến định cư nơi này. 

Ở nơi đây chúng tôi học hỏi được tâm tình bác ái, sự trung thực, lòng đạo đức và siêng năng cân mẫn trong công việc.

Ngày mới đến ở Bình Giả, hai em trai tôi kiếm sống bằng cách vào rừng kiếm cây bo về tước ra, má tôi đem lên Sài Gòn bán cho họ dệt chiếu hoặc làm dây thừng, vì sợi nó dẻo và dai, nhờ đó gia đình tôi kiếm ăn qua ngày. Thời gian này chúng tôi ở nhà ông bà Cương cuối làng ba Bình Giả, họ nghèo không giúp đỡ được gia đình tôi nhưng họ giới thiệu gia đình tôi với mọi người. Nên những người chung quanh quan tâm đến chúng tôi rất nhiều. Ở đây vô tình chúng tôi gặp lại ông Khâm (ông ấy mới chết khoảng ba năm). Trước giải phóng ông ấy đi lính ở Đà Nẵng. Gia đình ông ấy sống ở trại tiếp liệu gia binh gần nhà chúng tôi. Nhà tôi có tiệm bách hóa, ông ấy thường qua mua gạo, mắm, dầu, đặc biệt là rượu, vì mỗi lần ông ấy đến, trước khi mua hàng đều uống ba ly rượu sau mới mua đồ dùng, nên chúng tôi đặt cho ông cái tên là ông ba ly. Ông ấy nhận ra chúng tôi trước. Ở trong khu gia binh rất nhiều người ra mua hàng, chúng tôi nhớ không hết, nhưng đến khi ông ấy nhắc ông là ông ba ly thì chúng tôi đều ồ lên vui mừng, ông cũng thú nhận là ông còn thiếu nhà chúng tôi sáu tạ gạo và tiền mắm muối. Tuy lúc ấy chúng tôi rất khổ, nhưng chúng tôi vẫn xí xóa vì ông ấy đang còn nghèo khổ (tật uống rượu vẫn còn). Ông kể cho mọi người về gia đình tôi, vì hoàn cảnh nên mới ra nông nổi này, cũng vì thế mà bà con Bình Giã càng thương mến gia đình tôi hơn.

Có một hôm má tôi đi lễ về, trên đường gặp ông Bảy ( gốc người Quy Hậu) hỏi chuyện và muốn gia đình tôi đến ở nhà cháu dâu của ông là bà Huyền vợ ông Châu. Nhà bà Huyền rộng, chồng đi cải tạo tuổi còn trẻ nên bà thích có người ở chung cho vui, thế là nhà tôi chuyển lên nhà bà. Đúng vậy, bà có năm đứa con nhỏ, nhà thì rộng thênh thang, bà để cho chúng tôi ở gian giữa, từ đó gia đình tôi được mọi người giúp đỡ đất đai và cách làm ăn. Ông bà Hiền ở sát bên là chị chồng của bà Châu, có ý muốn cho mẹ con tôi một miếng đất sau hàng ba để cất một ngôi nhà, miếng đất này gồm của ba người: ông Châu, ông Hiền, ông Hóa. Nói thật ra nó thuộc diện đá sỏi, nước chảy hai bên tạo thành lòng chảo chênh vênh, nhưng mẹ con tôi rất mừng. Khi ấy nhập hộ tịch rất khó, vì lúc bấy giờ cách mạng lên nắm quyền, gia đình tôi thuộc ngụy quân ngụy quyền nên hơi khó khăn. Bà Châu quen ông Đinh bạt Khôi (công an khóm) nhờ giúp đỡ, ông giới thiệu má tôi đến gặp ông Lục ở Nghi Lộc (trưởng công an Bình Giã), ông ấy chưa xét duyệt vì còn phải điều tra. Điều kiện hơi khó, nhưng tính ông rất vui vẻ và nhân đạo, sau mấy lần nạp hồ sơ, ông rất thích chữ viết của tôi. Bữa nọ, bỗng nhiên ông gọi tôi lên và bảo: " Mi viết cho tau một số hồ sơ, tao sẽ cho nhà mi nhập hộ tịch". Ôi chao tôi mừng muốn khóc...."dạ " và viết ngay, xem ra ông có vẻ hài lòng nên đã chấp thuận đơn xin.

Bà Cảnh ở La Nham là ân nhân của gia đình tôi. Những lúc không có gạo ăn hoặc thiếu hụt tiền bạc bà biết được là sẵn sàng giúp đỡ. Ông Quang, bà Bảy, ông Hiền, bà Minh và bà con trong Quy Hậu họ luôn động viên và an ủi khi chúng tôi gặp khó khăn. Chúng tôi rất cảm động vì họ chẳng phải bà con ruột thịt gì, thế mà họ yêu thương đùm bọc thật đầy tình người. Những lúc đi thăm nuôi bố tôi ở trại cải tạo, họ đến cho quà cáp vì biết chúng tôi thiếu thốn. Biết nói sao với những tâm tình quý giá ấy, chúng tôi chỉ biết tri ân tận đáy lòng mình.


Năm 1981, bố tôi được nhà nước cho trở về gia đình, sau bảy năm học tập. Nỗi vui không sao kể xiết, khi nghe tin bố tin về... mọi người kéo đến chào... mừng niềm nở như chính người thân của họ, thật cảm động. Từ đó gia đình tôi sống yên ổn trong tình làng nghĩa xóm, phần đạo phần đời đều tốt đẹp, gia đình tôi cũng đã hòa nhập được với cuộc sống của mọi người.

Hơn 30 năm sống ở Bình Giả, chị em chúng tôi kẻ lấy chồng người lấy vợ đều gốc Nghệ An. Chồng tôi gốc họ Bình Thuận, em trai tôi lấy người Quy Hậu, em gái tôi lấy chồng ở họ La Nham, Vinh Trung. Bình Giả chính là quê hương của đàn con cháu tôi.

Rồi không ngờ, nhà nước có thông báo những người đi cải tạo từ ba năm trở lên được làm hồ sơ đi Mỹ. Bố má tôi đã làm giấy và được chấp thuận. Gia đình chúng tôi lại một lần nữa từ bỏ quê hương để đến một nơi xa xôi sinh sống. Tuy ra đi, Bình Giả luôn ở trong lòng chúng tôi với bao kí ức tốt đẹp.


Sau này khi qua Mỹ, có vài lần bố má và các em tôi về thăm quê hương, không bao giờ quên những ân tình của bà con Bình Giả, nhất là họ Quy Hậu.

Dù sống ở một nơi rất xa, chúng tôi vẫn nhớ và luôn yêu mến người Bình Giả. Họ chính là bài học tình yêu mà chúng tôi đã được học. Xin cám ơn Bình Giả.

Du Quốc Anh

V.T.T.V







0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top