Tản mạn: 

Về một số danh xưng tại Bình-Giã

Xuân-Nghi

Nhân kỷ niệm ngày thành lập trại định cư Bình-Giã 60 năm lần thứ ba và cũng là lần thứ hai được tổ chức tại Atlanta. Nhân dịp này, tôi muốn góp ý để nhắc lại một vài danh xưng của Bình-Giã mà thỉnh thoảng trên facebook hoặc trên trang nhà Bình-Giã một số Vị có nhắc đến trong các vần thơ hoặc một đoạn văn diễn tả khi nhớ về quê hương Bình-Giã trong đó một số tên không đúng với danh xưng mang ý nghĩa lúc ban đầu. Hy vọng sự góp ý này cũng là sự gợi nhớ các danh xưng và ý nghĩa của nó mà cha ông chúng ta muốn các thế hệ mai sau cố giữ gìn, đừng đánh mất cội nguồn nơi xuất phát của các Ngài trước lúc đến Bình-Giã, đó cũng là ước mơ nho nhỏ của tiền nhân như tiếng vọng ngân dài trong nhiều thế hệ kế tiếp.

Bình-Giã không phải là nơi danh lam thắng cảnh, cũng chẳng phải nơi có đền đài nguy nga cổ kính, để mọi người đến tham quan hay nghỉ ngơi giải trí mà Bình-Giã chỉ là vùng đất đỏ hoang vu, nơi sơn lâm chướng khí, nơi đầy thú hoang độc hại và hung dữ, Bình-Giã cũng là nơi đón nhận người di cư thuộc địa phận Vinh hay nói rõ hơn là người Nghệ-An và Hà-Tĩnh phải bỏ quê hương đi tìm đất sống, họ đi tìm hơi thở tự do, tìm nơi thể hiện niềm tin mà không bị ai quấy nhiễu , tìm chén cơm manh áo cho chính bản thân, gia đình, họ ước mơ cho con cháu được ngẩng đầu lên trong nhân bản, trong học hành mà nơi quê cha đất tổ đã không thể kiếm được vì chính sách, vì chiến tranh và điên đảo.

Kết quả hình ảnh cho đài đức mẹ vinh châu bình giãBình-Giã, tên địa danh sẵn có trên bản đồ tỉnh Bà-Rịa, được Phủ-Tổng-Ủy Di-Cư (PTUDC) chỉ định làm nơi định cư cho người Nghệ-Tĩnh, trại này được đặt tên là Trại Định-Cư Bình-Giã và chia làm ba trại: Trại I – Trại II và Trại III.

Sau chuyến quan sát đầu tiên của đại diện những người muốn đi Bình-Giã từ các trại tạm cư Bình-Đông I + II – III và Xuân Trường do xe của PTUDC. Chuyên chở đổ xuống số 2Bis Faucols trụ sở của địa phân Vinh, các vị đại diện đều chấp nhận đi Bình-Giã và xin đối tên từ trại I + II + III thành: Làng I, Làng II và Làng III .

Trước khi giáo dân đến nhận đất định cư tại Bình-Giã, PTUDC. Giao việc bố trí dân sự cho đại diện địa phân Vinh. Việc bố trí dân sự cũng hết sức tế nhị, làm thế nào cho phù hợp với tập quán, phong cách sống và công việc làm ăn trong lâu dài của giáo dân mà không làm tổn thương đến cuộc sống của họ, Đối với các Cha địa phận Vinh, các Ngài đã từng quản xứ nên hiểu rất rõ về người giáo dân Vinh, hơn nữa sự khác biệt về tổ chức giáo xứ Vinh cũng khác với tố chức các giáo xứ thuộc các địa phận ngoài Bắc và trong Nam, Các xứ Bắc và Nam hầu như không có giáo họ, nhưng địa phận Vinh có 140 giáo xứ với 140 nhà thờ và 706 giáo họ với 706 nhà thờ, có xứ mang 17 giáo họ như xứ Kẻ-Dừa, 4 giáo xứ có 13 giáo họ, 2 giáo xứ có 12 giáo họ, 6 giáo xứ mang 10 giáo họ, chỉ có một xứ duy nhất không có giáo họ là xứ Nghĩa-Yên, còn từ 1 đến 9 thì rất nhiều, con số này chỉ tính đến ngày 30/4/1975 (trích theo cuốn lịch sử giáo phận Vinh của Linh-mục Cao-Vĩnh-Phan). Từ giáo họ đến giáo xứ nơi gần nhất là 2km. xa nhất 12km, có những giáo họ phải qua truông, qua đèo, vượt suối, băng rừng mới đến được giáo xứ, vì thế họ phải có nhà thờ riêng, có sinh hoạt riêng, có tập quán riêng, có phong cách sống và lãnh thổ riêng, tất cả những thứ đó đã in sâu vào tâm khảm của người dân công giáo Vinh. Nhắc lại sự kiện trên vì có liên quan tới việc sắp xếp định cư tại Bìmh-Giã sau này.

Sau khi tham quan và yêu cầu đổi tên trại, các cha họp lại và phân chia như sau: giáo dân các xứ thuộc tỉnh Hà-Tĩnh nhập lại thành một làng, lý do: giáo dân Hà-Tĩnh hiền hòa, chất phác, cần cù, hầu hết sống về nông nghiệp. Do cha cố Phê-Rô Nguyễn-Văn-Kiều lãnh đạo.

Giáo dân các giáo xứ thuộc phủ Diễn-Châu, Nghệ-An nhập lại thành một làng, lý do: giáo dân vùng này lanh lợi, tháo vát, đa số sống về buôn bán và các nghề khác trong đó có nông nghiệp. Do cha cố Antôn Đoàn-Duy-Đông lãnh đạo.

Giáo dân các giáo xứ thuộc tỉnh Nghệ-An sống bao quanh giáo phận Vinh nhập lại thành một làng, lý do: giáo dân các giáo xứ này rất năng động, hăng say, nóng nảy hầu hết sống về nông nghiệp. Do cha cố Phê-rô Trần-Thanh-Cần lãnh đạo.

Việc khai quang, san phẳng do ty công chánh Bà-Rịa, định vị và phân lô làng, do Phủ TUDC. Và trưởng ty công chánh Bà-Rịa sắp xếp. Theo phóng đồ của ty công chánh: Từ ngã ba Ngãi-Giao về hướng đông, cách cầu suối cạn La-Vân khoảng hơn 1km bắt đầu vị trí trại I: Từ phía bắc đường đá cho đến đầu vườn Tư-Cam, phía nam đường đá cho đến nhà cuối của trại I với 5 hàng ngang. Trại II: phía bắc đường đá, bắt đầu từ vườn Tư-Cam cho đến nhà cuối của trại II với 7 hàng ngang. Phần còn lại cả hướng bắc lẫn nam của đường đá cho đến La-Sơn phần đất trại III.

Trước khi đưa dân đến định cư, các Cha đã họp bàn và tổ chức bốc thăm chọn làng cho các nhóm xứ đã sắp xếp, kết quả: Cha cố Phê-rô Nguyễn-Văn-Kiếu bốc trúng làng I – Cha cố Antôn Đoàn-Duy-Đông bốc trúng làng II và Cha cố Phê-rô Trần-Thanh-Cần làng III.

Khoảng đầu năm 1956 các thân hào họp bàn với các cha và đề nghị đổi tên làng, lần đổi tên này có ý nghĩa liên quan đến việc người di cư và quê quán, hầu nhắc nhở con cháu mai sau đừng quên quê hương là địa phận Vinh, nên lấy chữ Vinh đứng đầu cho tên mỗi làng như sau

I- Vinh-Hà = Vinh là địa phận Vinh, Hà là Hà tĩnh . Vinh-Hà là tên Làng I.

II- Vinh-Châu = Vinh địa phân Vinh, Châu là Phủ Diễn-Châu, Vinh-Châu là tên làng II.

III- Vinh-Trung = Vinh địa phận Vinh, Trung, địa phận Vinh là Trung tâm của các nhóm xứ bao quanh, nên gọi là Vinh-Trung là tên làng III. 

Việc tổ chức và sắp xếp định cư cho làng I cũng có những khó khăn lúc đầu vì số gia đình các giáo dân, các xứ thuộc Hà-Tĩnh chỉ có 2 giáo xứ có trên 100 gia đình là Thổ-Hoàng và Gia-Hòa, còn lại các giáo xứ khác mỗi nơi chỉ khoảng 5 đến 15 gia đình vì thế các cha phải gom các gia đình của các xứ thuộc Hạt nơi mình cư trú ở ngoài bắc thành một họ. Như thế Vinh Hà có 5 họ trong đó có 3 họ ghép.

I- Họ Vinh-Lộc: Vinh là địa phận Vinh, Lộc là tên hạt Vạn-Lộc, thành tên là VINH-LỘC, Vinh-Lộc là tên mới (bao gồm các xứ :Thượng-Nậm – Yên-Lạc – Xuân-Liệu – ngày nay vì quen với âm thổ người ta gọi thành Vĩnh-Lộc (nếu chữ Vinh thêm dấu ngã hoặc dấu nặng vào là sai với ý nghĩa lúc ban đầu.)

II- Họ An-Hà: An là Nghệ-An, Hà là Hà-Tĩnh ghép lại thành An-Hà, họ An-Hà gồm cả lương và Giáo sống chung bao gồm các xứ: Kẻ-Vang -Thượng-Bình - Kẻ-Gai – Vạn-Căn.

III- Họ Văn-Yên: Văn là tên đầu hạt Văn-Hạnh – Yên là tên cuối hạt Nghĩa-Yên, ghép thành họ Văn-Yên (bao gồm các xứ: Kẻ-Mui – Kẻ-E – Kẻ-Đọng – Đông-Tràng – Tiếp-Võ – Trại-Lê – An-Nhiên) nếu gọi và viết là Vạn-Yên (chữ Văn bỏ dấu mũ ngược trên đầu và thêm dấu nặng là không đúng với ý nghĩa lúc ban đầu.)

Năm 1957, việc định cư tạm thời ổn định, dân bắt đầu khai thác và canh tác, chuẩn bị cho việc tự túc sinh sống, dịp này Tổng Thống Ngô-Đình-Diệm đi kinh lý trại định cư Bình-Giã, sau khi tham quan từ Vinh-Hà – Vinh-Trung sau cùng Cụ về Vinh-Châu, sau khi nói chuyện với giáo dân, Cụ có trao cho Cha Antôn một gói hạt giống kèm một số tiền mặt (không biết 7.000$00 hay 17.000$00 không nhớ rõ) Cụ nói: số tiền này Cha xây một trường trung học cho con em Bình-Giã, sau đó phái đoàn rời Bình-Giã.

Trường học được khởi công xây ngay sau đó ít lâu, do chính người Bình-Giã vẽ họa đồ và xây cất, ban đầu trường được đặt tên là VINH-ĐỨC (Vinh là tên địa phận Vinh, Đức là tên Đức Giám-Mục Jb.Trần-Hữu-Đức, Ngài là vị Giám-Mục Việt Nam đầu tiên của giáo-phận Vinh, Ngài cũng là vị Giám-Mục chịu nhiều đau khổ nhất, trong suốt triều đại Giám-Mục của Ngài, từ bị bắt giam, tra khảo, hành hạ, đói khát, có những lúc Ngài đã chết lịm vì kiệt sức, nhưng nhờ vào sự khôn ngoan, nghị lực, can đảm và lòng dũng cảm của Ngài mà giáo phân Vinh còn tồn tại đến ngày nay) về sau Cha Antôn đổi lại Thành TÂN-ĐỨC (có nghĩa là: Tân là mới – Đức là tên của đức Giám-Mục) Tân Đức là Đức Cha mới Đầu tiên của giáo phận Vinh, nếu viết hay gọi là: TẤN-ĐỨC không đúng với ý nghĩa ban đầu.(chữ Tân không có dấu sắc)

Còn mấy hạt giống, Cha Antôn cũng gieo trồng, sau đó mọc lên đưọc 7 cây, loại cây có thân mộc, mọc khỏe, chịu mưa nắng, xanh tươi quanh năm, năm 1963, Tổng Thống bị sát hại cũng đúng lúc cây cho quả đầu mùa, nhưng không ai biết tên cây đó là gì. Quả của cây, giống như quả cam nhưng to hơn, vỏ cứng, có vị cay, lúc chín vỏ ngã màu vàng, bổ ra bên trong có lớp cơm màu vàng, thơm, vị ngọt, lớp ở giữa có chứa ít chất keo màu đỏ thắm, ngọt, rất thơm bao bọc một lớp hạt, giống hạt cam. Cha Antôn có gửi lên viện Pasteur Sài Gòn nhờ phân chất và được viện này cho biết: Quả này rất tốt cho bổ dưỡng, lưu thông máu huyết, giảm đau nhức v.v.(Điều này tôi chỉ nghe Cha Antôn kể lại, tôi không được xem bản phân chất của viện Pasteur). Sau đó, Cha Antôn lấy mấy quả chín đập vở và ngâm vào rượu đế, một thời gian sau, rượu trở nên màu đỏ thẩm giống như rượu mận, mùi thơm, uống rất hấp dẫn, nhưng uống nhiều hơi nóng. Lúc này Cha Antôn đặt cho nó cái tên; RƯỢU TRƯỜNG SINH, từ đó dân Bình-Giã cũng gọi là rượu trường sinh cây trường sinh, quả trường sinh, nhiều nhà trồng trường sinh. Đến 1972, ngày ban hành luật người cày có ruộng của Tổng Thống Thiệu được tổ chức toàn quốc tại Vũng-Tàu, lúc này có triển lãm các sản phẩm nông nghiệp, lúc đó Ông Bùi-Viết-Khoa Xã trưởng Bình-Giã đem rượu trường sinh ra triển lãm tại gian hàng tỉnh Phước-Tuy, từ đó trường sinh càng ngày càng nổi tiếng. Tiếc rằng Bình-Giã không trân quí món quà kỷ niệm mà đả triệt tiêu cho đến tuyệt chủng, thật tiếc và thương. . . . . .

Chuyện quê góp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh

 (Hai câu kết truyện Kiều của Nguyễn-Du)

Xuân-Nghi




    
        

    


    
    
    
    
    
    

     






























0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top