Tản mạn: Về trợ giúp di cư, ổn định di cư và cuộc sống của

Người di cư Bình-Giã

-------oo0oo------- 
 Xuân-Nghi

Thấm thoát đã 60 năm qua đi, 60 năm đủ tròn tuổi thọ cho một đời người và cũng 60 năm cuộc sống người di cư Bình-Giã cũng nổi trôi theo vận nước.

Những ngày đầu của 60 năm về trước, cha ông chúng ta đã phải bỏ quê cha đất tổ, mồ mả tổ tiên và cả gia sản mà các Ngài đã tạo dựng nên bằng mồ hôi, nước mắt và công sức suốt cả cuộc đời, cũng chẳng đem đi được chút gì nhiều, vỏn vẹn trong vội vàng, trong hối hả, một đôi gánh trên vai, hay một bao tải nhỏ với ít quần áo và những thứ gì có thể mang đi được. Bởi người nông dân, chân lấm tay bùn làm gì có vàng, có bạc, làm gì có của ăn của để trong thời buổi nhiễu nhương ấy. Bước chân ra khỏi nhà, cố ngoảnh nhìn căn nhà lần cuối, nước mắt lưng tròng nhưng vẫn phải đi. Đi mà chẳng biết tương lai như thế nào! Không biết những gì sẽ xảy ra phía trước, mọi việc hầu như phó mặc Thiên Chúa, không ai dám nói chuyện với ai! Cũng không ai dám bàn chuyện với ai! Ai cũng giữ im lặng trong đăm chiêu suy tính, mỗi người đều hiểu ngầm với nhau cố nắm giữ niềm tin, dù ai còn ai mất, hy vọng người sống sót sẽ đến được nơi trời mới đất mới, nơi tương lai mơ hồ đó sẽ là vùng đất hứa cho những con người kém may mắn này. Nơi sẽ không có hận thù, đố kị, nơi không phải phập phồng lo sợ. Cái ước mơ tầm thường nhất của cha ông chúng ta: Xin có được giấc ngủ bình yên, có nơi để thể hiện niềm tin, có chén cơm để ăn, có chút ruộng để cày. Cũng vì ước mơ nho nhỏ đó mà phải chịu trăm cay nghìn dắng và rồi ngày nay con cháu lại phải tản mác khắp nơi trên địa cầu này. 

Năm nay, đến ngày kỷ niệm 60 năm thành lập trại định cư Bình-Giã, anh em giới trẻ các thế hệ kế tiếp tại quê nhà cũng như hải ngoại đang nổ lực chuẩn bị cho ba ngày đại hội, ở quê nhà chắc thời gian tổ chức ngắn hơn và tổ chức cũng dễ dàng hơn, còn hải ngoại có phần khó khăn từ địa điểm tập trung, nơi ăn chốn ở, phương tiện chuyên chở; ngay đến vấn đề vệ sinh, an ninh, sức khỏe v.v. anh em đều phải phân công và đảm trách trong chu đáo, thật là sự tự hào cho người di cư Bình-Giã, chúng tôi xin trân trọng và cám ơn sự hy sinh của anh em. Nhờ lúc này chúng ta có dịp gặp nhau và chung lời cầu nguyện cho cha ông, người đã dẫn đưa chúng ta đi tìm đất sống, đồng thời để nhắc lại và tri ân chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa và các nước đã giúp ổn định cuộc định cư vĩ đại này.


Trong phần trình bày về trợ cấp dưới đây, tôi chỉ trình bày trong phạm vi của những người di cư thuộc địa phận Vinh, định cư tại Bình-Giã và sự trình bày này chắc còn nhiều thiếu sót, mục đích để nói lên lòng quảng đại của những con người đầy lòng nhân ái mở rộng vòng tay giúp đỡ kẻ khốn cùng. Phần trợ cấp gồm:

I/ Trợ cấp tạm cư: Tất cả mỗi người từ phía bắc Bến-Hải, khi đặt chân đến phần đất miền Nam, đều được chính phủ VNCH cấp phát mỗi người, mỗi ngày 700grs gạo trắng, 1 đồng 20 xu (1$,20) tiền thức ăn, kèm thêm củi đốt, nước mắm, dầu ăn và cá khô (bống 

kèo) bảy ngày phát một lần, kéo dài cho đến ngày đi định cư, ngoài ra còn có cấp phát vô thường do cơ quan từ thiện công giáo như: áo quần cũ, bột mì, đậu đỏ hạt lớn, bơ lỏng, pho mat (fromage), v.v. có thể tháng một hoặc hai lần.

Từ các trại tạm cư chuyển tiếp vào Nam, nếu đi bằng tàu thủy, trước khi lên bờ mỗi người trong gia đình được phát tám trăm đồng (800$) gọi là tiền định cư, những người di chuyển bằng tàu hỏa hay auto sẽ được nhận ngay tại trại tạm cư.

Bảo trợ tổng quát cho các trại định cư Bình-Giã: Nước Pháp bảo trợ định cư toàn diện cho làng I – Hoa-Kỳ bảo trợ định cư toàn diện cho làng II và III. Vì số tiền bảo trợ giữa Pháp và Hoa-Kỳ có phần chênh lệch, trong khi người định cư tòan là giáo dân địa phận Vinh, vì thế Cha cố Phêro Nguyễn-Viết-Khai đại diện di cư địa phân Vinh Ngài đề nghị nhập chung lại và phân chia đồng đều cho cà 3 làng.

II/ Trợ cấp định cư:

Ngoài số tiền 800 cho mỗi người đã phát, mỗi gia đình có từ 2 người trở lên được nhận:

*- 3.000$00 (ba nghìn đồng tiền mặt) tiền công và vật liệu xây dựng một căn nhà 2 gian, mái tranh, phên lá tự túc, khung nhà đầy đủ bằng gỗ, chính phủ cấp.

*- 1.200$00 tiền trợ cấp khai quang một mẫu đất, lẽ ra số đất này công ty khai quang, nhưng Cha cố Phêrô xin để giáo dân tự làm để có thêm thu nhập.

*- 1.200$00 trợ cấp giống cây cà-phê, phân bón, tiền công cho 2 sào đất trồng cà phê, phần này cũng do công ty đảm trách nhưng Cha cố Phêrô xin để dân thực hiện.

* - Mỗi gia đình được nhận một mảnh vườn chiều ngang 25m, chiều dài 80m (2 sào)

Riêng làng I xin nhận một sào, vì 2 sào ở xa nhau sẽ cô đơn trong hoàn cảnh rừng hoang.,

Làng II và III vẫn nhận 2 sào vườn cho mỗi gia đình, 4 sào đất đã khai ủi.

III- Các trợ cấp khác:

*- Trợ cấp lương thực, mỗi đầu người mỗi ngày 700grs gạo trắng, 1$20 tiền thực phẩm, nước mắm, dầu ăn v.v. trong 18 tháng kể từ ngày nhận nhà ở.

*- Mỗi gia đình được tặng 1 con heo khoảng 2 tháng tuổi, 2 con gà khoảng 2 tháng tuổi và cứ 2 gia đình được tặng một con bò.

*- Trợ cấp dụng cụ sản xuất: Mỗi gia đinh được cấp: dao, rựa, cuốc, thuổng, cào, búa bổ củi, cưa cá mập 2 người kéo, cưa khung và mỗi khóm được phát 4 chiếc cày kiểu Đài-Loan, nhiều loại hạt giống khác.

*- Trợ cấp y-tế: Mỗi gia đình được phát mùng, mền, áo quần củ v.v. mỗi ngã tư trong làng có một giếng nước, tính theo đường dọc và ngang, việc này thực hiện chưa xong, không hiểu vì sao, biết rằng sau khi hoàn tất, tiền vẫn còn dư.

IV/ Trợ cấp công cộng:

*- Mỗi làng, đều có một trung tâm gồm: nhà thờ, trường học, trạm y-tế với diện tích lúc đầu dự trù là 8 hecta, nhưng khi thực hiện không rõ.

*- Mỗi làng có một xe đò chuyên chở người đi chợ loại xe Renaul của Pháp, một xe camion chuyên chở hàng hóa loại có mui. Một máy phát điên 30kw. Riêng tại làng II 

dựng thêm 2 nhà vòm bằng nhôm làm trạm y-tế, có Y-Tá trực thường xuyên, Trưởng trạm lúc đó, Ông Vũ-Hồng-Nhàn, Trưởng nữ y-tá hộ-sinh, bà Nguyễn-Thị-Châu.

*- Mỗi làng có một nghĩa trang, dự trù lúc đầu là 8 hecta, sau khi thực hiện, không rõ.

Tất cả máy móc xe cộ chỉ trong một thời gian ngắn đều trở thành khối sắt vụn vì không có người biết xử dụng và bảo trì.

Nói tóm lại, nếu đem so sánh các gia đình lúc ở ngoài bắc ra riêng cho con khi lập gia đình có bằng một phần nhỏ của sự trợ cấp này không. Và ngay cả các gia đình đang sống ở Bình-Giã trong thập niên 50 – 60 có được như vậy không, chúng ta tự suy nghĩ, tự so sánh, để chúng ta luôn ghi nhớ công ơn của những người đã cứu giúp cha ông chúng ta trong buổi ban đầu.

V/ Những diễn biến sau định cư:

1/ Nỗi buồn và sự lo bâng quơ

Sau khi bốc thăm nhận nhà, các gia đình chia tay nhau và tạm biệt các căn lều bạt tạm trú, để ai về nhà đó, bây giờ mới cảm thấy sự trống vắng và nỗi buồn man mác nơi chốn rừng hoang dã này, nhất là lúc màn đêm phủ xuống, gia đình nào cũng cửa đóng then cài, thu mình trong hai gian nhà tranh vách lá với ngọn đèn dầu leo lét, đêm càng khuya gió rừng càng thổi mạnh tạo nên những âm thanh ma quái từ các cành cây, bụi tre cọ xát vào nhau, kèm thêm những tiếng hú, tiếng gầm của những động vật hoang đi săn mồi, những tiếng coòng, tiếng kẻng, tiếng phèng la của các xóm người thiểu cầu kinh, ma chay cho người thân của họ mới ra đi từ các vùng Bầu Chinh, Bầu Trơ, Suối Rúc, Ruộng Tre vọng lại, cảnh rừng hoang vu lại thêm âm thanh quái rợn làm giấc ngủ của người mới đến không được yên lành.

Những con đường ngang dọc chỉ mới hình thành, nhiều đoạn còn gồ ghề, lồi lỏm, nhiều gốc cây còn ngổn ngang u đống, sau những cơn mưa, đường sá lầy lội, những đám cỏ hoang mọc um tùm, với sức người cuốc được chỗ này mọc lên chỗ khác, bước chân ra sân đất vừa trơn vừa dẻo, dính chặt vào giày vào dép, gỡ được bên này lại dính bên kia, bổ cuốc xuống, phải dùng cây để cạy vì đất bám chặt vào cuốc, không cạy không thể bổ xuống được lần thứ hai, tình trạng này kéo dài cho đến quá nữa thập niên 70.

2/ Đất đai và khí hậu

Đất đai canh tác, chỉ một thiểu số khai phá thêm ruộng và rãy, đa phần chỉ co cụm trong 4 sào đã được cấp phát vì thiếu nhân lực, hầu hết thanh niên trai tráng đổ về thành phố hoặc các tỉnh kiếm công việc nhẹ nhàng hơn như cán bộ, công chức, cảnh sát và quân đội, các sản phẩm làm ra như khoai, bắp, đậu, tuy được mùa nhưng rẻ cho nên đời sống có phần chật vật. Bình-Giã thuộc tỉnh Bà-Rịa của miền đông Nam-Bộ nên cũng chịu ảnh hưởng khí hậu của Nam-Bộ, mỗi năm có hai mùa mưa và nắng, riêng Bình-Giã thì đúng là nắng bụi mưa sình, mùa nào cũng có những khổ lụy của mùa đó. 

3/ Thời kỳ bệnh dịch.

Cuối 1956 và kéo dài đến 1959 bệnh sốt rét, ngã nước, thương hàn bao trùm lên cả Bình-Giã, số tử vong khá nhiều, nặng nhất là Vinh-Trung, rải rác làng nào cũng có, 

tiếc rằng thời kỳ đó chẳng mấy ai nghĩ đến chuyện đi nhà thương, toàn bám lấy mấy ông thầy lang và đặt hết niềm tin vào họ, do đó số thiệt hại nhân mạng mới lên cao, hơn nữa phương tiện giao thông thời đó Bình-Giã chỉ có một chiếc xe đò Liên-Đồng, mỗi ngày chỉ có một chuyến vào và một chuyến ra vì thế ít ai nghĩ đến chuyện nhà thương hay bệnh viện. Bởi các lý do nêu trên nên một số đông đã bỏ Bình-Giã di chuyển đi nơi khác.

a/ Đợt một, khỏang trung tuần 1957, đợt này: Làng I, họ Thổ Hoàng đi hơn 100 gia đình, còn một số rất ít ở lại, tất cả đi về Banmêthuột, các họ khác cũng có nhưng rải rác 

dăm bảy nhà. Làng II đa phần là Nghi-Lộc và rải rác các họ khác cũng có, làng III cũng vậy.

b/ Đợt hai, từ trung tuần 1959, đợt này đi theo chương trình dinh điền tại Chơn-Thành Bình-Dương do Phủ Tổng Ủy Dinh-Điền dinh điền mời gọi, đi đợt này có trợ cấp 

Cũng 18 tháng, Chơn-Thành có ba Dinh-Điền, Cẩm-Xe sau đổi là Hiếu-Văn, Ống-Chải sau đổi là Hiếu-Nghĩa, hai dinh điền này hầu hết là người dân Vinh, riêng dinh điền Chân-Tín sau đổi là Trực-Đạo, hầu hết là người Bắc. Đất đai các dinh điền này tương đối tốt, đất cát pha sạch sẽ, nhưng chẳng được bao lâu chiến tranh bùng phát mọi người bỏ của, phiêu bạt tứ tung, mạnh ai nấy chạy. 


Bình-Giã lúc mới đến có khỏang hơn tám nghìn người, sau hai đợt di chuyển còn lại khoảng hơn 4 nghìn cho cả ba làng. Những người ở lại - Các Ngài cố bám Bình-Giã như quê hương yêu dấu, dù trải qua biết bao cay đắng nổi trôi với vận nước, nhưng một lòng đặt hết niềm tin vào Chúa Mẹ.

Lạy Mẹ thương con những buổi chiều,

Thu về, lá rụng lệ rơi theo.

Nếu không có Mẹ đời con héo.

Phong trần lê gót bước phiêu du.

Xuân-Nghi























0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top