DÒNG THỜI GIAN

(BÀI DỰ THI TTX 14)



Đời người tựa như những giấc chiêm bao, sáu mươi năm qua đi như những giây phút phù du, như gió thổi mây bay. Mới ngày nào đây, các Cha Nguyễn Văn Kiều, Đoàn Duy Đông, Trần Thanh Cần cùng nhiều vị đàn anh trong số di cư, đã tiên phong đi tìm đất mới, mà giờ đây đã trở thành những người thiên cổ, an giấc dưới lòng đất Bình Giã.

Năm 1954 chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp và Việt Minh ký hiệp định Geneve chia đôi lãnh thổ lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, phía Nam quốc gia, phía Bắc cộng sản. Theo hiệp định điều 14 D, dân chúng hai vùng có quyền chọn nơi sinh sống đổi vùng cho mình. Sau mười năm kháng chiến, chết chóc đói khổ phục vụ chiến trường, dân công tiền tuyến hậu phương, phong trào đấu tổ cải cách ruộng đất, con người ít nhiều cũng bị xáo trộn về tinh thần cũng như vật chất. Chúng tôi một số người muốn tìm miền đất mới trước để làm ăn sinh sống, sau là để giải tỏa những âu lo.

Sau khi suy nghĩ và quyết định chúng tôi nộp đơn lên chính quyền miền Bắc, xin được đổi vùng vào miền Nam sinh sống, sau nhiều lần trì hoãn chính quyền miền Bắc cuối cùng đã cấp giấy cho chúng tôi được di cư vào Nam. Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vừa mừng vừa tủi, bởi sự ra đi không được trọn vẹn, kẻ ở người đi, cha con, anh em chia cách đôi đường…con người ta ai cũng có thể cảm nhận được trọn vẹn sự chia ly người thân bằng những giọt nước mắt chia xa cay đắng thế nào…

LÊN ĐƯỜNG việc gì đến cũng phải đến, chúng tôi được chính quyền miền Bắc cho phương tiện chở tới nơi trao trả cho chính quyền miền Nam ở vĩ tuyến 17. Khi vào tới nơi, chúng tôi được chính quyền miền Nam cho tạm trú, cấp phát lều bạt lương thực để chờ thời gian tìm nơi định cư lâu dài.


TÌM KIẾM cuộc sống lâu dài cần có nơi canh tác nhà cửa, trường học, chợ búa, giáo đường… Sau nhiều ngày tìm kiếm các vùng đất thích hợp để định cư, vì dân Nghệ Tĩnh đa số sống bằng nông nghiệp. Khi đã bàn thảo so sánh, cuối cũng chúng tôi thống nhất chọn vùng Bĩnh Giã thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu làm nơi định cư. Chuẩn bị lên đường xem đất định cư, chúng tôi một số từ các trại Bình Đông, Xuân Trường Thủ Đức, đi tiên phong để xem đất và quan sát địa thế.

VÙNG ĐẤT MỚI con đường từ thị trấn Bà Rịa tới Bình Giã, khoảng hơn hai chục cây số, song gồ ghề lồi lõm, hai bên cây cối rậm rạp ngã nghiêng, chồng chéo lên nhau, có nơi xe phải chui lòn mới qua được. Ở đây chỉ có đồn điền cao su Bình Ba và Xuân Sơn, nhưng chẳng thấy bóng một xe nào chạy về vùng này. Đến nơi, chúng tôi chọn một vùng đất trống để dựng lều tạm trú coi như đặt mốc đầu tiên, chỗ đất này nay là nhà thờ giáo xứ Vinh Hà hiện tại.

Sau một tuần lễ đêm nghỉ ngày đi, quan sát mọi khu rừng trong vùng, nhận thấy nơi đây có suối nước, có cây gỗ, có lá kè làm vách, có cỏ săng lợp nhà, đất đỏ màu mỡ có lẽ đây là nơi thuận lợi mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho con cái Người. Kết quả từ trên xuống dưới đồng thuận chọn nơi đây định cư. Bắt đầu, đúng ra Phủ tổng ủy di cư của chính quyền hiện thời sẽ ủi đất, phá rừng, phân lô và dựng nhà rồi mới đem dân tới. Tuy nhiên người đại diện di cư là linh mục Nguyễn Viết Khai muốn lấy công làm lợi nên đề nghị với phủ tổng ủy di cư thay vì để chính quyền lo liệu, dân tự làm lấy nhà, tự đi đốn lá đốn cây, chính quyền trả công, còn sườn nhà vì dân chưa có phương tiện nên chính quyền cưa gỗ và phát cho từng nhà. Như vậy là dân có thể đến ngay vừa ở vừa làm.

LÊN ĐƯỜNG ĐI ĐỊNH CƯ từ các trại tạm trú Bình Đông, Xuân Trường, các xe tải lần lượt nối đuôi nhau chở người di cư về vùng Bình Giã.

THỜI GIAN từ tháng ba bắt đầu cho đến 5/11/1955 là hết, các khu đã chia sẵn thành ba làng 1,làng 2, làng 3, mỗi làng lại chia ra từng khóm, căn cứ vào các xứ cũ ngoài Bắc để làm đơn vị, mỗi làng có một ban định cư để lo cấp phát thực phẩm và các dụng cụ cầnthiết cho người định cư, thực phẩm và các dụng cụ do phủ tổng ủy di cư của chính quyền miền Nam chở tôi để trao lại cho ba ban định cư mỗi làng, thời gian trợ cấp một năm.

Ba làng gọi chung là trại định cư Bình Giã kèm theo tên trại định cư Hiếu Nghĩa, mỗi làng thành một xứ, làng 1 gọi Vinh Hà do Cha Phêrô Nguyễn Văn Kiều làm chánh xứ, làng hai gọi Vinh Châu do Cha Antôn Đoàn Duy Đông làm chánh xứ, làng ba gọi Vinh Trung do Cha Phêrô Trần Thanh Cần làm chánh xứ. Cũng xin nói thêm tên gọi mỗi xứ là căn cứ vào địa danh ngoài Bắc, Vinh Hà gồm người Vinh và Hà Tĩnh, Vinh Châu gồm nguyên Hạt Đông Tháp huyện Diễn Châu giáo phận Vinh, Vinh Trung gồm nhiều xứ của địa phận Vinh,Trung Bộ.

Địa thế và quang cảnh lúc đầu khi xe vừa đổ xuống nơi đây cả một cánh rừng hoang sơ mù mịt, thú rừng đủ loại những loài lớn như cọp, voi, nai, heo, bò rừng có tiếng động của người, chúng rút lui vào sâu, các loài sóc trăn cheo thì chúng vẫn quanh quẩn bên lều trại. Đối với người quen sống nơi đồng bằng thì đây là lần đâu tiên thấy sợ, còn những người sống về miền núi, hoặc đã từng đi dân công phục vụ chiến trường Tây Bắc thì cảnh núi rừng cũng không xa lạ.

RỪNG BÌNH GIÃ là một khu rừng nguyên sinh không biết hình thành từ thuở nào, đủ loại muôn thú voi, cọp, nai, heo, khỉ, báo, trăn, sóc, chồn, cheo, bò rừng và nhiều loài khác, có nhiều gỗ quý lâu năm, gồm cẩm lai, căm xe, sao, dầu, bằng lăng, mít nài, mặm, sơn tha và nhiều loại trong danh mộc, có một loại khoai từ rất lạ củ to bằng bắp chuối chồng chất lên nhau như buồng chuối dựng đứng năm này qua năm khác không hư ẩm, rất ngon, có trái đậu như bàn tay xòe, luộc ăn cũng ngon, người thiểu số gọi là đậu vèo. Ngày lại ngày cùng nhau vào rừng đốn cây chặt lá về làm nhà cuộc sống thầm lặng trong một không gian núi rừng, nhưng ngày đêm giữa cảnh trời hoang vắng có muôn ngàn tiếng hát lời kinh chúc tụng Thiên Chúa, mỗi buổi sáng đều có Thánh lễ. Lều bạt tạm thời làm nơi thờ phượng.

HÌNH THÀNH khi nhà cửa tạm thời ổn định, các xứ tổ chức bắt thăm ai trúng đâu ở đấy ba làng trở thành ba xứ, ba ấp, các xứ cũ ngoài Bắc thành từng khóm, từng họ, sự sinh hoạt nhịp nhàng trên dưới. Một ủy ban hành chánh xã hình thành để điều hành theo quy định của chính quyền, giữ gìn an ninh trật tự và cấp giấy tờ hành chánh.

ĐỊA PHƯƠNG HÓA khi đã ổn định mọi mặt, mọi người tiếp tục làm ăn, người phát rẫy khai hoang, người buôn bán, người làm công chức. Cuộc sống nhịp nhàng theo năm tháng và nơi đây đã thành làng quê vui nhộn, trù phú, xung quanh làng có lũy tre bao bọc, trong có trường học, giáo đường, chợ búa sinh hoạt ngày đêm, sự yên ổn chẳng được bao lâu thì chiến tranh xảy ra, có một lúc Bình Gĩa bị cô lập, trong bất xuất ngoại bất nhập, dù rất khó khăn thiếu thốn, song bà con trên dưới một lòng, can trường chịu đựng phó thác vào Chúa.

MỘT ƠN LẠ NHỚ ĐỜI vào tết Mậu Thân 1968 đạn pháo từ đâu bay tới rãi khắp ba xứ, đạn vẫn tóe lửa nhưng không trái nào phát nổ, chỉ những trái rơi ngoài làng mới nổ, đây là một ơn đặc biệt chỉ có Mẹ Maria cứu nguy chúng ta. Sau năm 1975 một số người rời bỏ ra đi sang nước khác, đa số vẫn kiên trì ở lại làm ăn sinh sống. Đến hôm nay toàn xã Bình Giã đã thay da đổi thịt, dân chúng ngày càng đông, vườn cây hoa trái tiêu, điều, cà phê xanh mát, buôn bán phát triển, xe cộ ngày đêm nhộn nhịp.


Ba xứ có ba thánh đường to lớn, hiện đại, đường xá trải nhựa, đèn điện thắp sáng, từ một làng quê hẻo lánh, nay gần như phố xa thị thành. Nhìn lại thời gian 60 năm tuy không dàisong cũng đủ trải nghiệm cho một đời người vui buồn sướng khổ, đau thương và mất mát, chỉ có một sự nhẫn nại, yêu thương, đoàn kết, tin tưởng, phó thác mọi sự trong tay Chúa dù hoàn cảnh có bi đát đến đâu, cũng sẽ vượt qua mọi sự. Bình Giã ngày xưa ấy đã để lại cho chúng tôi rất nhiều kỷ niệm mà suốt đời không thể nào quên. Đây chính là cuộc hành trình đi tìm kiếm và xây dựng của những người con mang tên Xứ Bình…



0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top