NHỮNG CẢM NGHĨ VỀ BÌNH GIÃ XƯA VÀ NAY

(Bài dự thi  TTX15)


Nhân dịp kỉ niệm sáu mươi năm di cư lập làng Bình Giã, đây là một sự kiện rất lớn đối với những ai đã may mắn và hạnh phúc được sống trên mảnh đất quê hương thứ hai yêu thương “ Linh địa” này. Người dân bản địa thường gọi một cách thân quen “ làng di cư Bình Giã”. Và không ngoại lệ, tôi cũng như bao người khác được sinh ra và lớn lên đều tự hào qua cách gọi trìu mến thân quen đó.

Kết quả hình ảnh cho cuộc di cư 1954Gia đình ba mẹ tôi theo đoàn người di cư vào Nam 1954, sau hiệp định Giơ ne chia đôi đất nước, ngăn đôi bờ sông Bến Hải vĩ tuyến 17 trở vào, đã bỏ lại sau lưng tất cả nhà cửa, ruộng đồng, Mồ Mã Tiên Tổ, cùng bao người thân làng trên xóm dưới, rồi những cảnh chia ly đẫm nước mắt với bao người ở lại do thiếu may mắn hoặc không có cơ hội đi cùng đoàn...Ngày tháng qua đi, cuộc sống đã thay đổi theo nhịp bước cùng lớp người Nam tiến, cả đoàn người ra đi tất cả hai bàn tay trắng, không nhà không cửa và không một chút tài sản mang theo. Tất cả đoàn người trong chuyến hành trình đi tìm đất mới đều do Cao Ủy, Hội thiện nguyện Quốc Tế và Chính Phủ Miền Nam bảo trợ.

Rồi, ngôi Làng Di Cư Giáo Phận Vinh được tọa lạc trên một vùng đất đỏ Bazan rộng lớn đầy cây cao cổ thụ, nhiều nét hoang sơ, nhưng màu mỡ trù phú và tươi tốt của miền Đông thuộc Tỉnh (Bà Rịa) Phước Tuy. Từ đây ngôi làng được đặt tên rất gần gũi thân thương bằng hai tiếng gọi Bình Giã. Nơi đây núi rừng trùng điệp, cọp beo, lợn lòi, voi, khỉ, chó sói và muông thú khác đầy dẫy, không kể ngày đêm chúng di chuyển săn mồi thành đàn một cách tự nhiên không cách sợ sệt cùng với bao chướng khí của rừng thiêng nước độc, muỗi rừng, vắt, sên và các loại rắn độc, rồi bệnh sốt rét đang thách đố và đe dọa đến tính mạng mọi người. Nhưng, với khối óc tư duy sáng tạo và tính cần cù chịu khó, nói ít làm nhiều của người dân Nghệ An( Hà Tĩnh) đã biến rừng xanh núi thẳm thành nương rẫy trù phú, những mảng rừng tre, rừng choi đã trở thành ruộng lúa xanh tốt mơn mởn. Trải dài thẳng cánh cò bay, hay các nương ngô, rẫy sắn chạy dài bạt ngàn cuối tận chân trời. Nhà cửa cũng được cất công xây dựng, từ nhà tranh vách đất, chuyển sang mái tôn vách ván, và cải tiến theo nhiều kiểu mà khả năng cho phép của người dân quê tôi thời đó.

Làng Bình Giã lúc đó được chia thành ba xứ ( bắt thăm theo thứ tự 1,2 và 3): Làng 1 xứ Vinh Hà ở đầu làng, làng 2 xứ Vinh Châu ở giữa trung tâm và làng 3 xứ Vinh Trung cuối làng. Mỗi xứ đều có các Cha quản nhiệm và có nhà thờ để giáo dân lui tới đọc kinh xem lễ hằng ngày trong vấn đề tâm linh khấn nguyện. Xứ tôi đầu làng có Cha Phêrô Nguyễn Văn Kiều, một người Cha đạo đức, bác ái và thánh thiện vô cùng, ngoài việc đạo đức phần hồn cho bổn đạo, Ngài còn là Giám đốc của trường Tư Thục Tấn Đức xuyên suốt hàng chục năm dài… Làng giữa có Cha Antôn Đoàn Duy Đông, Ngài cũng không kém Cha Phêrô về đạo đức và các mặt khác, Ngài còn nổi trội về mặt chăm lo học hành cho con cái giáo dân, cùng với ba Cha lo mở trường dạy học để nâng cao kiến thức, dân trí cho bao thế hệ con cái trong làng, rồi sau này, Ngài còn đặt máy xay lúa để người dân trong làng không còn phải khổ sở, lo nơm nớp mỗi khi hết gạo phải giã gạo cối bằng tay, quá vất vả mất sức, tốn kém thời gian vô kể hoặc phải đưa lúa lên tận Long Kiên, Bà Rịa xay mới có gạo để ăn, để bán… Làng cuối có Cha Cần là một Mục tử tốt lành, Ngài cũng không thua kém phần đạo đức như hai Cha Làng trên, nhưng rất tiếc Ngài bệnh tật triền miên và Chúa cất Cha về hơi sớm, khi tuổi đời chưa quá ngũ tuần.

Kết quả hình ảnh cho đài đức mẹ vinh châuChiến tranh lan rộng, tiếng bom đạn nổ rền khắp nơi, rồi tiếng đại bác từ xa vọng lại làm đinh tai, nhức óc mọi người, và thi thoảng tiếng máy bay gầm rú như nuốt chửng không gian yên tĩnh của một vùng quê vốn tĩnh lặng, sau những phi vụ vốn yểm trợ cho một đơn vị hành quân nào đó. Người dân Bình Giã đã quá quen dần những thứ âm thanh hỗn loạn ấy từ bao giờ rồi. Chung quanh làng được bao bọc một lũy tre xanh dày đặc kín kẽ, nhìn rất đẹp mắt và thơ mộng, những đầy sắc thái kiêu hùng và bền bỉ, dẻo dai và chung thủy cùng đoàn kết chấp nhận hi sinh, được trải dài từ làng 1 đến làng 3, chiều ngang và độ dài chung trên dưới 9 - 10 km2; Từ đằng xa hoặc trên cao nhìn xuống, trông như một “ Tấm Lụa màu xanh” giống như hoa “ Dải Áo Đức Mẹ” đủ màu sắc thánh thiện khiêm nhu, và như có tiếng “ Thầm nhủ” : Có Mẹ đây, Mẹ sẽ ban cho các Con Muôn Sự Bình An. Hãy đoàn kết, luôn có lòng bác ái và yêu thương nhau… Các Con nhé!!!.

Ba Xứ đạo Bình Giã vẫn có thói quen của người con Giáo Phận Vinh từ Bắc đem vào, cứ đến tháng năm, tháng hoa kính Đức Mẹ được tổ chức rước kiệu rất long trọng và sùng kính một cách đặc biệt... .Kể từ khi có cha Phanxicoo Đinh Quốc Thụy về coi xứ làng 3, thì mọi sinh hoạt của Bình Gĩa về đạo và đổi thay đổi toàn diện, và khởi sắc lạ thường... nên giáo dân 3 Xứ và các vùng phụ cận khâm phục và ngưỡng mộ Cha hết mực, từ các cấp chính quyền “nể trọng sát đất”. Không những thế, phải nói đến mùa Chay, mùa Thương Khó cả ba Xứ đều tổ chức “Học Bổn Lẽ Cần”, rồi tổ chức khảo bổn tại các họ đạo: tiếp sau đó sẽ khảo trên xứ vào dịp Tuần Thánh, học sinh được nghỉ gần tuần lễ không ngoài mục đích là việc tôn giáo,nhưng thời khắc đó sao mà lòng đạo đức dâng cao, và quá đỗi hạnh phúc chừng nào?

Thời gian các năm về sau, chiến sự nổ ra càng khốc liệt, trong làng cuối xóm lại có người chết trận, cảnh phân ly từ biệt, vợ mất chồng, con mất cha để lại bao tang thương cho người ở lại... Cha mẹ ngậm ngùi tiễn con ra đi chẳng khác nào “ Lá vàng thương tiếc lá xanh rơi” và bao phiền muộn, hệ lụy bào mòn hết sức lực của tuổi già chưa bước qua tuổi thơ. Biết bao lớp trai trẻ đến tuổi quân dịch phải làm tròn trách nhiệm, mà ở Đất Nước, chính thế nào người dân cũng phải chấp hành tuân lệnh...chiến tranh và bom đạn là chết chóc chẳng trừ một ai nó tàn nhẫn, ác độc như thế đó... nên chẳng có ai yêu thích bao giờ. Cuối tháng 12 năm 1964 trận chiến ác liệt diễn ra tại làng Bình Giã chúng tôi, một cuộc chiến đẫm máu và chết chóc mà hai bên “ Công và Thủ” đều hao tổn binh lực, thiệt hại đáng kể và kéo dài hơn cả tháng mới chấm dứt, lần này nhờ ơn Chúa Mẹ cả làng thiệt hại về người và tài sản cũng không nhiều lắm, cũng từ đó chiến tranh làng Bình Giã được truyền tụng lan rộng, không những trong nước mà Ngoại quốc Phương Tây, Châu Âu đều biết tới... rồi cả hai đầu chiến tuyến không ngớt lời ca tụng chiến thắng và thành tích của mình. Lúc này tôi còn đứa trẻ thiếu nhi. Đã có trí khôn và biết phân biệt thế nào là chiến tranh và thế nào là hòa bình. Và dĩ nhiên tôi phải chọn hòa bình, để chiến tranh mau chấm dứt, Mẹ Việt Nam không còn phải khóc và đau khổ vì mất người thân nữa, không còn thấy bom rơi đạn nổ nhà cháy từng hàng hoặc không muốn thấy máu đỏ da vàng huynh đệ tương tàn nhau nữa v... và v...

Tôi còn nhớ như in, vào những năm 1969, 1970 "Làng Ta" thường bị pháo kích   . . . . . . . . . . . , nhưng không có một trái đạn nào nổ ở trong làng, thậm chí có nhiều trái đạn rơi xuyên mái nhà, lọt vào trong nhưng đạn không nổ. Và đặc biệt trước mắt Nhà Thờ Vinh Châu trên sân vận động sát Nhà Vòm, có cả chục quả đạn pháo không nổ, nằm lăn lóc chình ình như cá lóc và bí đao “ế chợ”,được Công Binh thu lượm tiêu hủy. Tất cả đều nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ thương che chở, nên Con Dân Bình Giã được bình an và tai qua nạn khỏi, sau này Làng ta xây dựng Đài Đức Mẹ để Tạ Ơn, và cũng là nơi đọc kinh khấn nguyện của Con Dân xứ đạo không ngoài việc tôn thờ Ngài.

Dần dà,nhà cửa dân tôi được xây cất nhiều hơn, đường xá có cải thiện, chợ búa buôn bán nhiều mặt hàng đa dạng, đã tăng thêm nguồn thu nhập góp phần phát triển kinh tế cho mọi người, mọi nhà. Rồi có một vài chiếc xe đò chạy trong ngày, hay năm , bảy chiếc xe lam từ Bà Rịa ra vào buôn bán tấp nập trao đổi hàng hóa... mà vào những năm ấy Bình Gĩa toàn rụng chuối, nhất là chuối chà, chuối sứ không nơi nào so kịp, hoặc bí đỏ (bù rợ), bí đao lại càng bội thu mỗi khi mùa về; riêng lúa ngô, khoai, sắn và đậu các loại nhà nào cũng chất đầy sân, đầy bồ không kể xiết... Được thiên nhiên luôn ưu đãi về thổ nhưỡng và khí hậu, có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Nên lúc nào cũng mưa thuận gió hòa, đã tạo nên những mảng màu xanh của hàng ngàn, hàng vạn hecta hoa màu cây cối tốt tươi đâm chồi nảy lộc, sai bông trĩu quả, hương thơm quả ngọt của những mùa thu hoạch vùng đất mới quê tôi vậy. Vào những thập niên 1972 “ Mùa Hè Đỏ Lửa” trở về sau, chiến tranh và bom đạn lại càng tàn khốc trên diện rộng của hai miền Nam Bắc; đặc biệt ở miền Nam thời đó, trên các Tỉnh lỵ và Thành phố lớn, nhỏ đều xảy ra chiến sự ác liệt và đẫm máu xuyên suốt nhiều năm trường. Trong những cuộc chiến liên tiếp xảy ra, máu và nước mắt chảy dài có thể thành sông thành suối, xương có thể chất đống cao như núi. Thời khắc này, Làng Bình Giã cũng không ít lần nơm nớp lo sợ, sự hủy diệt của bom đạn và chết chóc diễn ra từng ngày, thần chết sẽ gõ cửa bất cứ lúc nào, và “ Trời kêu ai nấy dạ”.

Không như thế, cảnh sinh hoạt Tôn giáo vẫn bình thường, giáo dân rất sùng đạo, các đoàn thể, hội đoàn trong các giáo xứ có tổ chức qui củ và hệ thống hẳn hoi. Nên việc sống đạo và giữ đạo của người dân nổi dậy từ trẻ con cho đến người cao tuổi luôn thể hiện tinh thần Phúc Âm “ Kính Chúa yêu người” trên hết mọi sự và thể hiện tám mối phúc thật trong đời sống hằng ngày...Tuy bom đạn và chết chóc gần kề, bao khó khăn chồng chất, vậy mà các trường học không bao giờ vắng bóng thầy cô và học sinh, luôn mở cánh cửa đón nhận và gieo trồng vườn ươm tri thức và giá trị đạo đức nhân bản cho mọi tầng lớp, trong đó giới trẻ được ưu tiên hàng đầu. Chính ngôi trường Trung học Tư thục Tấn Đức đã sản sinh nhiều nhân tài cho “Đạo và Đời” , có rất nhiều Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ của Giáo Hội, và biết bao người đã thành Nhân và thành Danh trên nhiều ngành nghề, với các chức vụ trong xã hội trước và sau này. Ngoài ra không thể bỏ qua, nếu không nhắc đến ngôi trường trung học Đệ Nhị cấp Tư Thục Hồng Lĩnh, một ngôi trường tuy còn non trẻ, thành tích còn khiêm tốn, nhưng cũng đồng hành trong việc phát triển giáo dục “ Dân trí tại xã nhà trong giai đoạn éo le thời ly loạn...”. Ở giai đoạn này Cha Phêrô Trần Đình Trọng làm hiệu trưởng, Cha Giuse Lê Thanh là Hiệu phó khoảng 10 năm.

Kết quả hình ảnh cho mộ cha kiềuXin nghiêng mình cúi đầu cảm ơn Quý Cha tiền nhiệm đã khai sinh cùng phát triển những mái trường “ Đồng tiền bát gạo” này, cũng không quên cảm ơn đến tất cả Thầy Cô, cùng mọi người đã có công, có của góp sức tạo dựng hai ngôi trường của làng Bình Giã với cả trái tim. Và tâm huyết của mình. Và sáu mươi năm cuộc đời, nay kẻ còn người mất, bao trùm cảm xúc lâng lâng khó tả. Mong những người còn sống luôn vui vẻ, hạnh phúc bên “ Lũ cháu dân con” và trường thọ; riêng các Ngài đã an giấc nghìn thu, xin Chúa dủ lòng xót thương... Thập niên 1971(28/4) Chúa đã gọi Cha Cố Phêrô rời khỏi dương thế sau khi đã hoàn tất cương vị mục tử tại trần gian. Lại một đau thương bao trùm lên Giáo dân Bình Gĩa nói chung, và xứ Vinh Hà nói riêng mất đi người Cha Khả kính, là chỗ dựa “Tinh thần” cả Tâm Linh của mỗi người, không phân biệt Lương hay Giáo hoặc sang hèn mạt vận. Thì hài Ngài được an táng trong khuôn viên xứ đạo trước mặt Giáo Đường. Ngài đã để lại “ Một Kho Tàng nhân đức, thánh thiện,bác ái và khiêm nhu, cho hậu thế. Trên phần mộ của Ngài bất kể ngày hay đêm, dù mưa hay nắng, lúc nào cũng khói hương nghi ngút, nến, đèn tỏa sáng, người đến cầu nguyện, khấn xin “ đông như hội...” Dù bất cứ mọi tầng lớp trong xã hội, giàu nghèo, không nhất thiết hay tứ cố vô thân hoặc “ Sống vô gia cư, chết vô địa tang” mặc kệ, đều được toại nguyện “ ý xin, Bằng Tạ Ơn Cha Phêrô luôn đủ mùa sắc, nội dung và thương kín cho nơi Mộ Phần...

Những chuyện xưa cũ Bình Giã của tôi không sao kể và nói hết được, chỉ gói trọn trên trang giấy trắng mực đen, đong đầy cảm xúc dâng tràn, khi những dòng lệ hạnh phúc lăn dài trên gò má, nhớ về 60 năm cuộc đời và kỉ niệm 60 năm di cư vào Nam lập nghiệp “ thăng trầm có, hạnh phúc có, và vui buồn trong đời sống vẫn không thiếu, chia ly và nước mắt muôn thuở, khó có ai thoát được cảnh này!!!

Rồi biến cố 30/4/1975, đất nước bước sang trang sử mới, hòa bình thống nhất, Nam Bắc một giải hòa chung một nhà, không còn bom nổ và cảnh chết chóc cũng chẳng còn. Mọi người, nhà nhà quê tôi miệt mài làm ăn xây dựng đời sống mới, bao gian khổ, khó khăn còn phía trước, dần dần được khắc phục rồi vươn lên có đời sống ấm no, hạnh phúc.

Và Bình Giã ngày nay đã thay da đổi thịt, nhà cửa khang trang sạch sẽ, giao thông khoáng đãng thuận tiện và bê tông hóa đường nhựa rất đẹp và rất nhân văn. Trường học được xây dựng qui mô khang trang mang nét thuần phong sư phạm, Thầy Cô có tâm huyết với học sinh trong sự nghiệp trồng người...và các em luôn chăm chỉ học tập, kính thầy yêu bạn. Các khu trạm xá, Bệnh viện chăm sóc y tế sức khỏe cho người dân Làng Tôi cũng khá tốt, ngoài ra đời sống tinh thần cũng được thụ hưởng qua các phong trào văn thể mỹ cùng các giải trí khác đều được quan tâm hỗ trợ...

Những ngôi Nhà Thờ Cũ đều dỡ bỏ, vì quá xuống cấp theo thời gian, thay vào đó là những ngôi thánh đường được xây mới theo kiến trúc Châu Âu rất nguy nga đồ sộ và lộng lẫy... cả Ba Xứ đều được “ Thừa hưởng do nhu cầu thừa tự của Bổn đạo theo luật tín ngưỡng và Tôn giáo. Và Nay, còn nhiều việc phải làm, với hy vọng tại Quê nhà Làng Ta, Việt Nam quê Mẹ của Ta vẫn mãi giàu đẹp, Tổ Quốc Ta Dân giàu Nước Mạnh, nhà nhà sống trong thanh bình, ấm no và hạnh phúc...


Vẫn biết rằng Đại Hội Đồng Hương Bình Giã, kỉ niệm 60 Di Cư ( 1955 – 2015) được tổ chức tại Allanta Hoa Kì đã sôi động từng ngày, làm bao trái tim thổn thức chờ đợi ngày khai mạc. Tin chắc rằng qua ĐHĐHBG Kỉ Niệm 60 Năm Di Cư lần này, sẽ qui tụ con dân Bình Giã Hải ngoại trên toàn Thế Giới họp mặt đông đủ, cùng với Bà con Làng ta ở chốn quê nhà, hòa nhập niềm vui, không ngoài mục đích: “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Ôn cố tri tân”, “ Đoàn kết hiệp nhất”, “ Nhỏ to chia sẻ”, “ Cảm tạ Hồng ân” và “ thiên duyên tiền định” v.v…Kính chúc quý Cha, quý Tu sĩ Nam Nữ, Ban ĐHĐHBG, Ban Tổ Chức, quí ban ngành và toàn thể Ông Bà, anh chị em dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và ân thánh của Chúa luôn mãi trên tất cả mọi người. Nguyện xin Chúa là Cha thương ban bình an và mọi sự lành cho đại hội thành công tốt đẹp.

ẢnhSự hạn hẹp trong bài dự thi, qua lời trình bày, bố cục và hư cấu nội dung cốt chuyện hoặc sử dụng ngôn từ còn ngây ngô mộc mạc mang tính địa phương (tiếng Mẹ đẻ),sự xác thực từng giai đoạn có thể nhầm lẫn hoặc đảo lộn, do “Tuổi cao sức yếu nên vấp nhiều khuyết điểm, rất mong Qúy vị và Bạn đọc thông cảm và lượng thứ. Những nét xưa và nay Bình Gĩa 60 Năm Di Cư; Dẫu cả gia đình tôi đã định cư trên Đất Nước Hoa Kì, mảnh đất quê hương thứ hai đầy yêu thương và nhân ái, mà Gia đình tôi ước vọng từ lâu, nay đã toại nguyện, và cuộc sống được cải thiện đáng kể, tuy không sung túc giàu sang phú quí, nhưng con đường trải dài phía trước đầy hứa hẹn…. Có như thế, nhưng Con người và trái tim tôi vẫn luôn hướng về quê Mẹ ruột thịt, mà quảng đời gắn bó trên dưới 60 năm trời “ mà vẫn” như hôm qua, hôm nay và mãi mãi suốt cả một đời….Bình Giã Xưa và Nay xin được kết thúc khép lại. Làng Ta luôn an lành, hạnh phúc và thịnh vượng.

Trân quí. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top