TÂM TƯ NHỚ VỀ BÌNH GIÃ

HÌNH THÀNH DI CƯ QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU TRÒN 60 NĂM TUỔI

Từ năm 1955 đến 2015

(BÀI DỰ THI TTX10)


Hiệp định Gioneve được kí kết ngày 20/7/1954 sông Bến Hải thuộc Quảng Trị được chọn là ranh giới của hai miền đất nước.

Kỉ niệm định cư Quê Hương yêu dấu tròn 60 năm tuổi năm 1955-2015. 

Dân di cư, ngày đầu tiên bà con rời khỏi Nghệ An, địa phận Vinh Quê Hương đất tổ. Ông nội tôi lúc đó khoảng ba mươi tư tuổi, Cha tôi thời thiếu niên khoảng mười sáu tuổi. 
Ông nội tôi kể rằng: Bà con nhẹ nhàng bước chân ra đi, và khởi hành khoảng hai giờ chiều ngày 22/6/1955, từ nhà đi ra tiểu Chủng Viện Vinh đi bằng phương tiện xe ô tô Cam Nhông ra tới Vinh và ở lại khoảng một tuần.

Sau đó đi qua biển cảng Cửa Lò đi tàu về đến Đà Nẵng dừng chân lần một rồi ở lại một ngày đêm. Qua ngày sau, tàu Pháp khởi hành, bà con tiếp tục lên tàu-gọi là tàu “Há Mồm” rất lớn, chở khoảng bốn trăm người đi về biển cảng Sài Gòn. Rồi xe quân đội chở đoàn về trại tạm cư Xuân Trường (Thủ Đức Sài Gòn), khi về tới thì đã có Cha Phero Trần Thanh Cần ở đó trước, đoàn được Cha đón tiếp rất vui mừng, hạnh phúc…

Đoàn đặt chân tới cảng Sài Gòn Xuân Trường khoảng ba giờ chiều ngày 4/7/1955. Trong chuyến tàu từ Bắc vào Nam, có một Linh Mục người Pháp, ông Nội tôi quên tên nhưng còn nhớ một đặc điểm của Ngài là: Ngài bị cụt một ngón tay, Ngài có giọng nói rất to và thường lo cho đoàn tàu ăn uống, phát thuốc say sóng, động viên để bà con khỏi mệt trong hành trình đi xa đường dài.



TẠM CƯ

ĐẠI DIỆN TỔNG ỦY DI CƯ

Cha Phero Nguyễn Viết Khai – Tổng ủy di cư.

Cha Anton Đoàn Duy Đông - Giám đốc trại định cư.

Ông Đinh Thế Lưu – Chủ tịch trại định cư (họ Nghi Lộc). 

Ông Cao Xuân Tường - Thư kí trại định cư (họ Xuân Phong).

Đoàn di cư ở lại trại tạm cư Xuân Trường khoảng hai tháng, người Pháp đều cung cấp lương thực ăn uống, sinh hoạt, bạt lều trại và đặc biệt: khi tạm cư ở Xuân trường có một giếng nước đã khô cạn, nhưng sau khi người di cư tới ở, lại có nước mạch chảy ra để bà con xài “đó là một sự kiện đặc biệt”.

Chặng đường đoàn tiếp tục từ Xuân Trường về nơi đất hứa Quê Hương yêu dấu Bình Giả, đi về bằng phương tiện xe ô tô viện trợ (VNCH).

ĐỊNH CƯ

Khi di dân từ Bắc vào Nam có ba Linh Mục tiên khởi:

Cha Phero Nguyễn Văn Kiều

Cha Anton Đoàn Duy Đông

Cha Phero Trần Thanh Cần

Ba Cha thành lập ra ba làng: làng Một là Vinh Hà, làng Hai là Vinh Châu, làng Ba là Vinh Trung. 

Kỉ niệm ngày định cư tại Quê hương Bình Giả nhằm ngày 28/10/1955. Nơi đây là vùng đất hứa, đất lành chim đậu, Quê Hương yêu dấu chuẩn bị đón mừng sáu mươi năm thành lập xưa và nay. Ban đầu về tới Quê Hương mới dân ba làng lập trại tập trung - tập thể, cứ một trại ở khoảng tám đến mười gia đình, trại tập trung tạm thời ở khoàng hai đến ba tháng. Trong thời gian tạm cư, người Pháp và đoàn viện trợ VNCH, viện trợ lương thực, bạt lều trại, lúc đang ở tạm thì người Pháp ủi đất ở thổ cư cắt thuở, chia lô địa hình bàn cờ, sau đó mỗi gia đình bắt thăm ai trúng thuở nào thì vui mừng ở đến bây giờ nhận đất ổn định, đoàn viện trợ thêm cây gỗ, tôn cao bồi sóng nhỏ để lợp nhà. Khi làm nhà ai cũng đồng nhất, có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau rất vui và hạnh phúc.

Phần tự túc của bà con dân làng, ai nấy đều đi chặt cây, chặt tre, cắt cỏ tranh săng để lợp nhà. Bà con định cư nơi Quê Hương đất mới đa số là rừng tre, cây kè, cỏ tranh. Vì vậy, ban đầu dân ở đây toàn bị sốt rét, xuất huyết.

Phần người Pháp viện trợ di cư, tất cả mọi người phía Bắc Bến Hải khi đặt chân đến phần đất miền Nam được Chính phủ nước ngoài (VNCH) cấp phát mỗi người mỗi ngày 700g gạo trắng, một đồng hai mươi xu kèm thêm muối, nước mắm, xà bông,… khoảng một tuần phát một lần, kéo dài cho đến ngày định cư. Di cư từ Bắc vào Nam có người đi tàu thủy, có người đi ô tô hoặc đi tàu lửa, ai đi tàu thủy được 800 , có tàu thì phát nhiều hơn, bảo trợ tổng quát cho các trại định cư của ba làng là nước Pháp và Hoa Kì.

HÌNH THÀNH QUÊ HƯƠNG

QUÊ HƯƠNG ĐỊNH CƯ TẠI BÌNH GIẢ NHẰM NGÀY 28/10/1955

Tổng ủy đã đưa bà con vào vùng đất đỏ màu mỡ miền Đông Nam Bộ, thành lập một vùng kinh tế mới gọi là “Bình Giả” gồm ba xứ đạo Vinh Hà, Vinh Châu, Vinh Trung.

GIÁO XỨ VINH HÀ



Cha Phero Nguyễn Văn Kiều đươc Cha Chính Khẩn đại diện Đức Giám Mục Giáo Phận Vinh bổ nhiệm chánh xứ tiên khởi Giáo xứ Vinh Hà.

Cha Phero Nguyễn văn Kiều:

Sinh năm 1903 tại xứ Quan Lãng, hạt Bụt Đà, Giáo phận Vinh. 

Cha thụ phong Linh Mục ngày 21/12/1935 tại nhà thờ chính tòa Xã Đoài.

Cha an nghỉ ngày 28/4/1971, an táng tại khuôn viên Giáo xứ Vinh Hà.


BAN HÀNH GIÁO XỨ NHIỆM KÌ ĐẦU TIÊN GIÁO XỨ VINH HÀ NĂM 1955-1958

Ông Nguyễn Duy Ân - trưởng ban Giáo xứ (họ Vĩnh Phước)

Ông Nguyễn Đình Ái - phó ban Giáo xứ (họ Vĩnh Phước)

Ông Nguyễn Nhiệm - thư kí (họ Gia Hòa)

Di cư vào gồm năm giáo họ:

Giáo họ Vĩnh Lộc - họ Vĩnh Phước - họ An Hà - họ Gia Hòa - họ văn Yên

Năm 1955, giáo dân mới di cư khoảng 2.100 người

Năm 2015, có 1.456 hộ gia đình, 4.900 giáo dân.


GIÁO XỨ VINH CHÂU

Cha Anton Đoàn Duy Đông - tiên khởi đầu tiên Giáo xứ Vinh Châu năm 1955.



BAN HÀNH GIÁO NHIỆM KÌ ĐẦU TIÊN GIÁO XỨ VINH CHÂU NĂM 1955.

Ông Phạm Vĩ - trưởng ban Giáo xứ (họ Vĩnh Hòa)

Ông Bùi Đức Thọ - phó ban Giáo xứ (họ Vĩnh Hòa)

Lê Văn Thọ - thành viên (họ Phi Lộc)

Ông Nguyễn Hộ (Vinh) - thành viên (họ Nghi Lộc)
Di cư vào gồm sáu giáo họ: họ Vĩnh Hòa - họ Phi Lộc - họ Đông Yên – họ Phú Linh - họ Nghi Lộc - họ Xuân Phong

Năm 1955, giáo dân mới di cư khoảng 2.300 người

Năm 2015, có 1.354 hộ gia đình, 6.568 người.

 
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC .

TRƯỜNG TIỂU HỌC VINH HÀ ĐẦU TIÊN NĂM 1955
_ Cha PhêRô Nguyễn Văn Kiều- xây dựng- và Hiệu trưỡng
-Thầy An Tôn Khôi- Gám học

TRƯỜNG TIỂU HỌC - TRUNG HOC TẤN ĐỨC ĐẦU TIÊN Ở VINH CHÂU NĂM 1957

Cha Anton Đoàn Duy Đông - Hiệu trưởng
Cha Đinh Quốc Thụy – Giám học
Trường Tấn Đức do Cha Đoàn Duy Đông thành lập. Trường bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (lớp Đệ Thất - Đệ Lục - Đệ Ngũ) cả ba làng đều học chung trường Tấn Đức, trường xây dựng hoàn thành năm 1957, nhưng chưa có học sinh. Mãi đến năm 1958, 1959 mới bắt đầu mở hai lớp Đệ Thất (lớp 6) có khoảng 60 học sinh chung cả ba làng, đa số học sinh ở làng Hai.

TRƯỜNG TRUNG HỌC HỒNG LĨNH XỨ VINH TRUNG ĐẦU TIÊN NĂM 1970
-Cha PhêRô Trần Đình Trọng-Tành lập-và Hiệu trưởng
-Thầy AnTôn Nguyễn Ngọc Sơn-Giam học.

GIÁO XỨ VINH TRUNG


Cha Phero Trần Thanh Cần - tiên khởi Giáo xứ Vinh Trung năm 1955.

Cha sinh năm 1919

Nguyên quán: Hà Tĩnh

Thụ phong Linh Mục nam 1952

Xuất thân từ trường Lý Đoán - xã Đoài

Qua đời tháng 11/1965, được an táng tại khuôn viên dòng Phước Lý

BAN HÀNH GIÁO XỨ NHIỆM KÌ ĐẦU TIÊN NĂM 1955 ĐẾN 1957.

Ông Phero Trần Văn Giáo - trưởng ban Giáo xứ (họ Bình Thuận)

ÔNG Phero Nguyễn Văn Trạch - phó ban (họ Quy Hậu)

Đa số giáo dân thuộc vùng đất Xã Đoài thuộc địa phận Vinh

Gồm tám họ: họ Yên Đại - họ Bình Thuận - họ Xuân Mỹ - họ La Nham - họ Nhân Hòa - họ Ngọc Long - họ Quy Hậu - họ Quan Lãng

Năm 1955, có 370 hộ gia đình, khoảng 1.660 giáo dân

Năm 2015, khoảng 6.045 giáo dân.

Tổng cộng số giáo dân ba xứ Quê Hương Bình Giả:

Mới di cư năm 1955: Khoảng 6.060 giáo dân

Hiên nay năm 2015: Khoảng 17.000giáo dân.


CƠ SỞ VẬT CHẤT XỨ VINH TRUNG

Buổi sơ khai Giáo Xứ sớm hình thành một ngôi nhà thờ bằng gỗ, mái tôn, vách ván, bàn ghế mộc mạc đơn sơ và được Đức Cha Simon – (Hòa) Nguyễn Văn Hiền làm phép năm 1957. Trước đó nhà xứ được cũng được dựng bằng gỗ với mái tôn, vách ván, gần nhà xứ có hội trường để hội họp và học giáo lý.


TÂM TƯ NGƯỜI CON XA QUÊ BÌNH GIẢ

NĂM NAY BÌNH GIẢ TRÒN 60 TUỔI

NĂM 1955-2015

“Quê hương nếu ai không nhớ,

sẽ không lớn nỗi thành người”

Đây là dịp quý báu để chúng ta nhớ lại những ngày tháng dĩ vãng.

“Ôn Cố tri ” Chẳng phải là một sự khôn ngoan đó sao?

Có những sự kiện chỉ khi ta đi xa và nhìn lại, mới thấy rằng chúng ta là những gì không thể chia lìa và vẫn nằm trong đáy tim ta, đã trở thành kỷ niệm, đã “hóa tâm hồn” đúng như thi sỹ Chế Lan Viên nhận định: 

“ Khi ta ở, đất chỉ là nơi đất ở, khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn”.

Dẫu vậy, không thể đo lường Giáo Xứ hay một Quê Hương bằng năm tháng, nhưng là bằng những thành quả nó đạt được. Có lẽ phải nhìn Bình Giả dưới góc độ này.

CÁI NHÌN VỀ QUÁ KHỨ.

Như ta đã từng biết Bình Giả từ buổi đầu khi mới vào Nam (1955) mới có thể hiểu được ba Giáo Xứ này một cách tường tận.

Khi ấy, Bình Giả chỉ là một vùng đất đỏ hoang vu của Quê Hương mới. Đây từng là “Quê Hương” của những động vật hoang dã. Thỉnh thoảng người ta bắt được những con nai vô tình “ghé thăm” nơi ở của chúng ta vừa mới di cư tới.

Đêm đêm, chúng ta còn có thể nghe thấy những tiếng gầm thét của cọp beo gọi đàn. 

Thoạt chân ướt chân ráo đến miền đất này, người dân Bình Giả phải đối diện ngay với cái ăn cái mặc để tiếp tục sống.

Cuộc sống khi ấy đương nhiên là khổ cực tư bề, khác nào dân du mục. Chưa có nhà, bà con ta sống tạm dưới những chiếc lều vải, và phải bằng lòng vậy, vì nghĩ rằng chỉ “tạm trú” một thời gian rồi trở lại về cố hương. Lúc đó tôi chỉ mới lớn khoảng 10 hay 12 tuổi nhưng vẫn nhớ những lời Cha Mẹ tôi kể được nghe vài điều tối thiểu:

· Xét về nhà cửa, bà con ta phải vào rừng đốn cây, chặt tre, cắt cỏ tranh đem về dựng lều trại tạm.

· Xét về đời sống kinh tế, vì không có gì ăn, bà con ta phải vào rừng bẻ măng tre, hái lá rau, hay đào củ khoai mài, quả sung để muối ăn cho đầy bụng.

Vốn chỉ quen với ruộng lúa và con trâu, bò, bà con ta còn quá lạ lẫm với cách thức canh tác trồng tỉa của vùng đất Quê Hương mới. Thế nhưng, với sức phấn đấu có thừa, bà con ta đã dần dần thích nghi với cuộc sống mới, quen dần với những cây lúa, cây ngô, cây độ, cây lạc, cây sắn. Và có thể nói mọi sự vươn lên từ đây…

Tôi: Đ Q M sinh ra lớn lên tại Xuân Mỹ, Vinh Trung, Bình Giả là một người con Quê Hương. Lúc tôi lớn lên giúp Cha Mẹ làm nông, tôi cũng trở thành một nông dân thuần túy, biết cuốc đất, cày cấy...

Bỗng dưng Cha Mẹ tôi kể lại chuyện xưa mới vào Quê Hương miền đất đỏ.

Con ạ! Vào năm 1955-1956 vì đất đai còn hoang sơ và kinh nghiệm chưa có ở nơi kinh tế-đất mới, nên đa số bà con của ta chấp nhận đi nỉa đất và cuốc cỏ thuê cho dân bản địa tại các làng xã lân cận.
Bản thân tôi không đi làm thuê, làm mướn, vì chưa đủ tuổi lao động. Hơn nữa tôi còn là cậu học sinh tiểu học, nhưng đã có nhiều lần theo anh, chị trong làng ba Xuân Mỹ đi chăn bò. Xuống đầu làng là cánh đồng Ngã Ba, cỏ xanh ngát nên đó là nơi bắt đầu thả bò. Từ đó, đàn bò đua nhau ăn cỏ lấn vào đồng Cống Lù – Ông Bồ. Đàn bò rất chăm gặm cỏ. Rồi sang chiều, ánh nắng ấm hoàng hôn dọi xuống thì đàn bò lại quay đầu về hướng tây để dẫn nhau về cổng chính làng quê. Ngày ấy tôi là cậu học sinh lớp sáu, trường Trung học Tấn Đức, vừa đi học, có buổi phụ cha mẹ tỉa – cuốc cỏ hoặc đi chăn bò, để gánh bớt cho cha mẹ phần nào. Đặc biệt tôi còn nhớ nhiều kỷ niệm rất có ích cho bản thân. Lúc tôi đi chăn bò, tôi thường ôm sách học bài dưới bóng cây xương cá bên đường bờ ruộng Ông Cầm. Kế tiếp, tôi đi tỉa – cuốc cỏ, giờ nghỉ trưa tôi tranh thủ ngồi dưới gốc cây sung cổ thụ dọc khe bà Khanh để làm bài. Lên lớp 7-8-9, tuy việc đồng việc học lấn nhau nhưng tôi đã cố gắng thu xếp việc học. Nghĩ lại mình được nằm trong danh sách cựu học sinh trường Trung học Tấn Đức, tôi cảm thấy tự hào lắm!
     
Đối với nông dân chính hiệu: Chúng ta vào thuở khai hoang lập ấp ấy, được vậy là hạnh phúc lắm rồi, nhất là khi chiều về mà chiếc đòn gánh oằn oại nhịp nhàng trên bờ vai nghiêng nghiêng. Chẳng dấu gì bà con trăm họ: Tôi đã nếm trải niềm vui thân thương ấy với mấy người xóm quê cái kiếp nhà nông thế mà đáng tôn vinh.

Nông dân không chỉ là bậc thầy về nhân đức, kiên nhẫn mà còn là người góp phần chính yếu nuôi sống cả gia đình, giáo xứ, cho đời, cho nhà Chúa bằng muôn vàn loài hoa sắc rực rỡ. Tấm Bánh Miến và Chén Rượu Nho tiến dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ để Chúa Thánh Thần biến đổi bằng Mình Máu Thánh Chúa Kitô, không phải là hoa màu ruộng đất và công lao của người nông dân đó sao?

Rồi Chúa GiêSu với thánh Giuse và mẹ Maria, tuy làm nghề thợ mộc nhưng sinh sống tại cái làng quê Nazaret vốn chẳng có gì sang quý, hay ho đáng kể (X.GA 1, 46) thì có khác gì nông dân đâu? Vả lại, Ngài lại giới thiệu Cha của Ngài trên trời “ là Người trồng nho” (X.GA 15,1) thì Cha Ngài là nguồn gốc cao nhất và quí nhất của nghề nông chúng mình rồi còn gì nữa! Vậy, hỡi các bạn nông dân của ta ơi: “ hãy tự hào trong Chúa” ( X.1CR 1.31) và hãy đoàn kết với nhau xây dựng Thế Giới mới hôm nay, chuẩn bị cho Trời Mới Đất Mới ngày mai (2PR 3.13, KH 21.1)

Thời gian qua mau, nhiểu kẻ nay đã thành người thiên cổ. Những người đã được sinh ra và lớn lên nơi đây có lẽ chẳng biết đến cội nguồn Quê Hương đã đành, mà e rằng cũng chẳng hay biết gì về một quá khứ đầy phấn đấu của Ông Bả Tổ Tiên Cha Mẹ nơi “ miền đất mới”: Ba Giáo Xứ Bình Giả Quê Hương.


BA GIÁO XỨ: HÀ-CHÂU-TRUNG BÌNH GIẢ QUÊ HƯƠNG.

Nay đã thay đổi.

Phần tôi khi được nhìn thấy Giáo Xứ Vinh Trung nhà mình hôm nay đang trên đà đô thị hóa, hiện đại hóa, với những ngôi nhà lầu cao ráo, đường tráng nhựa sạch sẽ, tivi tủ lạnh, đèn điện sáng choang,xe “mơ”…Tôi vẫn tự nhủ lòng: Cái thủa hàn vi của khởi đầu lập xứ ấy vẫn chứa đựng một bài học lớn về tinh thần nghèo khó phúc âm: Nghèo khó bằng sự lao động chuyên chăm, bằng đức kiên nhẫn, phó thác cho tình thương quan phòng của Thiên Chúa, bằng sự liên đới cảm thương với người nghèo khổ chung quanh ta, bằng tinh thần chia sẻ vì ích chung, bằng cách xử dụng của cải hợp lý, hợp tình và lành mạnh để làm điều thiện…bài học ấy vẫn có giá trị cho mọi người, mọi nơi, và mọi thời. 

Bình Giả đã thay da đổi thịt, nay trở thành Quê Hương xinh đẹp phát triển với những nhà cửa khang trang thay cho những túp lều tạm bợ hay những mái nhà lá vách ván khi xưa.

Bây giờ thấy rõ! Ba Giáo Xứ Quê Nhà-Hà-Châu -Trung ngày đêm tấp nập vui nhộn chẳng khác gì chốn thị thành.

Ba Giáo Xứ 1955-2015

Bao lần tu sửa thánh đường-nhà xứ Vinh Hà-Vinh Châu thánh đường đã được xây dựng mới và đã đưa vào sử dụng bao năm nay. Đặc biệt Giáo Xứ Vinh Trung vào dịp kỷ niệm 60 năm tuổi,cũng đang xây dựng một ngôi thánh đường mới-lớn-đẹp.
       


Ngôi thánh đường nguy nga với tháp chuông cao vút như biểu tượng cho sự hướng thượng và vươn lên không ngừng: Không những bậc cấp thênh thang dẫn tới tiền đường như chiếc thang an toàn đưa người ta vào tận cửa thiêng đàng.

Biểu tượng hai ngọn tháp chuông ngân vang lên tiếng truyền tin. Ngay đầu dốc tiến vào nhà thờ như một nhắc nhở thầm kín về tôn ty, muốn bảo đảm rằng Đấng Tối Cao vẫn luôn an bài dẫn dắt mọi sự, mọi người trong trật tự.

Rồi nhà xứ với hội trường xinh xắn, rộng rãi là nơi quy tụ cho cả Giáo Xứ khi họp hành đặc biệt cho lớp trẻ có nơi sinh hoạt, học hỏi và đua nhau vui nhộn để cùng phát triển tăng tiến…

Còn có thể nói gì hơn nữa?

“BÌNH GIẢ”-MIỀN ĐẤT TRỔ SINH HOA TRÁI


Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn Bình Giả theo vế bên ngoài sẽ là rất phiến diện và không thấy hết được thành quả to lớn.

Có lẽ phải nhìn Bình Giả trên phương diện con người thì mới thấy được hết hoa trái của nó, bởi vì như người ta thường nói: “Kế hoạch trăm năm là trồng người”

Trước tiên là được học vấn.

Con em của các gia đình trong Quê Hương được đến trường 100%. Con số các sinh viên ra trường và thành đạt không thể nào chỉ xòe ngón tay ra mà đếm hết. Truyền thống học giỏi và hiếu học của người dân gốc Nghệ làm cho Quê Hương ngày càng đi lên về phương diện này.

Chương trình khuyến học của ba xứ nhà bao năm qua đã có tác dụng động viên và thúc đẩy lớp trẻ thật hữu hiệu và rõ rệt.

Thật hữu lý, nếu bảo rằng “Quê Hương là đường đi học”.

Thử đến và một cách đặc biệt là sự đóng góp của quê nhà về phương diện ơn gọi dẫn thân cho Giáo Hội, cách riêng Giáo Phận Bà Rịa; Cũng như cho nhiều Hội dòng nam nữ trong và ngoài nước.

Để cho cụ thể ta có thể kể ra đây một ít gương mặt tiêu biểu như:

Đức Giám Mục Phaolo Nguyễn Thanh Hoan.



Giám Mục địa phận Phan Thiết – Ngài còn thành lập nhà dòng Bồ Câu Trắng– ở Hàm Tân thuộc địa phận Phan Thiết

- Cha Đậu Văn Minh – Giám Đốc tỉnh dòng Phan Xi Cô tại Vinh Châu – Bình Gia

- Cha Ngô Sỹ Đinh – Giám đốc tỉnh dòng Đa Minh – TP Hồ Chí Minh

- Cha Nguyễn Thái Phúc - Quản hạt Bình Giã


- Từ 1955 đến 2015
*Giáo xứ Vinh Hà:

- Giám mục 1

- Linh mục 22

- Tu sỹ nam 08

- Tu sỹ nữ 33

• Giáo xứ Vinh Châu:

- Linh mục 42

- Tu sỹ nam 10

- Tu sỹ nữ 42

* Giáo xứ Vinh Trung:

- Linh mục 34

- Tu sỹ nữ 42

* Tổng số: Quý cha – tu sỹ nam nữ tại Bình Giã quê hương:

- Giám mục 1

- Linh mục 98

- Tu sỹ nam nữ 135

- Đều là những vị Giám Mục – Linh Mục tương đối thành đạt kết quả tốt, và có nhiều đóng góp cho các giáo phận miền Nam cũng như các hội Dòng trong và ngoài nước.

Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến con số đông đảo các Nữ Tu thuộc các dòng đã tuyên khấn.

- Dòng Chúa Quan Phòng- ở họ Phi Lộc – Vinh Hà

- Dòng Bác Ái -ở họ Đông Yên – Vinh Châu

- Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ - Vinh Châu

- Dòng Mến Thánh Giá - Huế - ở họ La Nham – Vinh Trung.

Ngoài ra còn phải kể đến một số lớp trẻ đàn em đang tiếp tục nối gót các bậc đàn anh đàn chị trong danh sách chủng sinh… Xuất thân từ Quê Hương Bình Giả thân thương.


Nếu bảo rằng “ Con người là hoa của đất” thì quả thật chính các thánh quan thầy đã sản sinh ra . Nhìn vào những thành quả kể trên với sự đa dạng của nó, ta thấy khác nào một “vườn hoa nhỏ” trong lòng Quê Hương thân yêu. Có quá đáng không khi bảo rằng “Bình Giã miền đất trổ sinh hoa trái”? Vươn tới tương lai Kỷ niệm 60 năm hình thành phát triễn Quê Hương thân yêu,thiết tưởng là cơ hội quý báu để khi ôn lại quá khứ, chúng ta tri ân những vị Mục Tử thân ái và nhiệt tình đã có công hình thành, xây dựng và phát triển Quê Hương Bình Giã như ngày hôm nay.

Chúng ta cảm ơn những người vẫn còn sống đó giữa chúng ta, và đặc biệt những người ra đi trước chúng ta đã từng góp phần to lớn cho Quê Hương xứ nhà.

Đặc biệt chúng ta cảm ơn Chúa và Mẹ Maria đã dẫn dắt chúng ta với bàn tay êm ái nhưng mạnh mẽ, giúp chúng ta thắng vượt những thử thách gian nan của những ngày tháng ban đầu nhiều biến động đã phải trải qua.

Chúng ta hãy tích cực cộng tác với nhau như đã từng, để đem Quê Hương lên một tầm cao mới về phương diện vật chất cũng như tinh thần…

Hãy giữ lại nơi chúng ta tinh thần đoàn kết nhất trí, sự cương trực thật thà, tinh thần vượt khó, hiếu học, đạo hành và tương thân tương ái.

Nhất là dù sống ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, và làm việc gì đi nữa. Chúng ta không được là những người mất gốc, bởi vì:

“Quê Hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nỗi thành người” và 

“đừng ruồng bỏ, đừng quên đi con xuồng đã đưa ta qua sông”


60 NĂM NHÌN LẠI 

Thiết tưởng, đây cũng là một cái nhìn về Bình Giả Quê Hương sau 60 năm tuổi với niềm hanh diện và trân trọng…

Một lần nữa Đ Q M rất rất cảm ơn Quý vị-Ban “Bình Giả.Net” đã dành cho tôi một trang…………để tôi hồi ký, viết lại nhiều tâm tư một người con Bình Giả xa quê.

Chưa có ngòi bút nào lột tả hết được! Mau về Bình Gĩa mà ở thôi.

Trọng kính-thân ái chào 4 ngón













































0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top