Sau khi hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) được ký kết, các báo ở Hà Nội đăng tải sự kiện này, trong đó có điều khoản: các công dân được quyền thay đổi nơi di trú. 

Tại vùng Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An các người đi buôn thuốc lào, các thanh niên trong làng thoát ly ra Hà Nội trước đó 3 năm lén báo tin này về nhà và bà con rỉ tai nhau, thế là một biến cố trong làng đã xảy ra. Một làn sóng viết đơn xin di cư vào Nam được nộp cho chính quyền địa phương, về sau còn có người gởi giấy thông hành giả cho người thân và những người ít có khả năng được chính quyền cho phép vì họ được dán mác như địa chủ, phản động. Sau vụ thu hoạch thu đông dân làng ngưng sản xuất và bán hết trâu bò, các đồ dùng trong nhà để chờ chính quyền cho phép di cư, họa lắm mới có một vài nhà được bộ đội khuyến khích trồng một ít khoai lang mà chính các anh kéo cày cho.

Sau một thời gian không được chính quyền giải quyết nguyện vọng của mình, dân làng rủ nhau cứ mỗi chiều, các bà đội nón lên xã đòi giải quyết, liên tiếp nhiều tháng liền mãi đến tháng 4/1955 do nhiều biến động ngầm trong khu vực này chính quyền mới cho 7 gia đình được di cư đầu tiên trong đó có gia đình bà Sĩ Can.

Gia đình tôi chỉ được phép di cư vào thời gian cuối cùng, gia đình tôi đi là chuyến áp chót bởi hôm sau có một số nữa được đi trong đó có dì tôi sau đó cánh cửa di cư đóng lại, chúng tôi đi được là nhờ ông Chức Hiền một cán bộ xóm. Mẹ tôi gợi ý: ông cho chúng tôi đi, chúng tôi sẽ gởi nhà cho ông coi sóc và thụ hưởng hoa quả trong vườn như bờ chuối; ao mùng và đặc biệt hai ao rau muống thu hoạch quanh năm, mỗi ngày hái ra chợ bán hay bộ đội trong xóm đến mua ông có thể thu được cả trăm nghìn, gia đình ông có thể sống thoải mái hơn cái nghề hàng bạc của ông nhiều nên ông đồng ý. Một tối nọ, tôi đang ngủ được mẹ thức dậy, nói là viết biên bản ủy quyền cho ông Chức mà đi Nam. Trong khi tôi viết biên bản ủy quyền thì mẹ tôi lo nấu cơm ăn để đi sớm, tôi viết cái biên bản ủy quyền cho ông cai quản gồm nhà cửa; 600 viên gạch tàu cha tôi mua định làm sân lại, tủ giường và một số chum vại có sản phẩm như thuốc lào; bông; lạc (đậu phộng). Tôi viết làm 3 bản, một bản tôi giữ; 1 bản ông Chức giữ; một bản xã giữ. Sau khi đọc xong biên bản, các cán bộ xã gợi ý là nhà tôi còn thiếu thuế nhà nước muốn đi phải thanh toán, mẹ tôi đã gạt chiếc xe đạp cha tôi mua để thồ các em tôi khi được đi Nam nhưng nay không cần nữa vì cha tôi bị bắt giam trong thời gian tập trung ở trường Thử.

Theo thông lệ của ngày chúa nhật thứ 2 sau lễ Phục sinh, Giáo xứ Nghi Lộc chầu lượt, năm 1955 thật đặc biệt tôi thấy các giáo xứ trong hạt Đông Tháp về dự chầu rất đông, có người mang cả gánh gồng đi theo, trong nhà tôi cũng có một số người ở Đông Phú xuống ở, trong nhà thi thoảng lại có vài thanh niên vội vã đến, đi thẳng vào buồng đóng cửa lại bàn việc gì đó với nhau khoảng mươi phút lại vội vã ra đi, việc này diễn ra đến quá trưa thì chấm dứt. Khoảng 02g chiều, lúc đi chầu tôi thấy một ông lão quãng gánh đi một mình đến chỗ có bóng mát ven đường nghỉ chân cùng với một anh cán bộ theo sau, tôi không nghe anh cán bộ nói gì nhưng khi tôi đi gần đến chỗ ông lão đặt gánh nghỉ chân, tôi thấy ông lão mặt cúi gằm xuống lau mồ hôi và nói: ở dưới ni sướng thật được tự do, trên ví tui nó ngăn cản đuổi bắt cực khổ lắm. Nghe nói thế tôi dừng lại không thấy anh cán bộ nói gì, nhìn thấy tôi anh lẳng lặng bỏ đi, anh đi được một đoạn tôi mới hỏi ông lão: ông nói chi với anh cán bộ rứa? Ông ta nghe tôi hỏi, mặt biến sắc và đứng lên vội vã quãng gánh rời khỏi đó.

Giờ chầu chung hôm đó thật đông, đoàn người đứng chật cả sân nhà thờ có người mang cả quang gánh theo sau, khi chầu chung xong tôi thấy đoàn người không ai bảo ai họ kéo thẳng về cổng Sư tử, đi ra đồng chợ, xuống đồng Chùa qua cầu Đồ Đao lên đường 7, xuống ngã ba Xuân Phong, tôi chạy về nhà chưa thấy ai về, tôi ra bờ ao thấy đoàn người dẫn đầu đã đi qua đồng Chợ, tôi quay vào nhà mẹ tôi vẫn chưa về, tôi lại ra đàng cái chính, đoàn người vẫn còn nối nhau đi, tôi đi theo đến cổng Sư Tử thì quay về chưa tới nhà, tôi thấy mẹ quang gánh và các em tôi đi theo sau, tôi lại theo mẹ đến ngõ nhà chú Lưu. Chú cũng chuẩn bị đi, gặp chú, mẹ con tôi đứng chờ chú để cùng đi, lúc này đã ít người dần, tôi thấy cha tôi hốt hoảng chạy đến nói với chú Lưu: “Đừng đi, đi là để gặp Ủy hội quốc tế, hôm nay cha Khai đang đưa về Lưu Mỹ, chiều nay về theo đường 7 nhưng bị chúng nó phá cầu rồi, không về được đi làm chi vô ích”. Chú Lưu nghe nói đứng ngẩn ngơ một lúc rồi nói: “Dại bầy hơn khun lõi, người ta đi hết mình ở lại với ai”. Nghe nói thế, cha tôi bỏ đi, mẹ tôi hỏi tôi: “Mi có đi không?”. Tôi trả lời: “Mẹ cha không đi con cũng ở nhà”. Mẹ tôi giao chìa khóa nhà và xúc một ít gạo vào rá cho cha con tôi ở nhà ăn rồi mẹ đi theo chú Lưu. Như vậy, mẹ tôi và chú Lưu là người đi sau cùng. Tôi về đến nhà trời tối xẩm không thấy cha về, tôi mở cửa đưa gạo vào buồng khóa cửa lại, ra đường không một bóng người qua lại, tôi lên nhà xứ, chỉ có nhà xứ mới có người. Tôi bước vào phòng các chú gặp chú Miến, người giúp việc soạn bàn thờ và xướng kinh, gặp tôi chú bảo: “Cha anh đang trên nhà phòng với cha Nghiệm”. Tôi yên tâm và ngủ lại đó, sáng ra nhà thờ xem lễ, lễ xong ra khỏi nhà thờ tôi thấy khoảng 50 người là vợ con của các cán bộ đứng hỏi nhau. Người đàn ông duy nhất sau lễ hôm đó là tôi, ngoại trừ chú Miến giúp cha xứ, không thấy cha mình nên tôi đi theo chú Miến vào nhà xứ. Trong bữa ăn sáng cha xứ hỏi tôi: “Con có làm được thịt chó không?”. Tôi chỉ thấy người ta làm thịt chó chứ chưa làm bao giờ nhưng khi cha hỏi, tôi nhanh nhảu đáp: “Con làm được”. Cha lại nói: “Nhưng đừng cho nó sủa”. Tôi vội đáp: “Việc đó thì con chịu”. Cha cười và từ đó cho đến cuối bữa ăn cha không nói lời nào nữa. Khoảng 9 giờ, tôi về nhà vẫn không thấy bóng cha của mình, cửa vẫn khóa, tôi trở ra đến nhà anh Biên bạn mới quen, vì gia đình mới từ Vạn Phần vào Nghi Lộc chưa lâu, và cả hai cùng đi khắp làng suốt hai ngày trong quang cảnh đìu hiu, tới ngày thứ hai, Biên ngủ tại nhà tôi, sáng hôm sau tôi bắt gà làm thịt ăn no nê con gà vẫn chưa hết, tôi cất gà vào rá gạo rồi hai đứa lại đi chơi tiếp, trưa về tôi thấy khóa cửa buồng bị bẻ, rá gạo và thịt gà còn lại bị lấy. Tôi nói với Biên: “Mất gạo, chiều nay tôi phải đi Xuân Phong rồi”. Thế là tôi chỉ lót lòng bằng một trái ổi còn xanh ngoài vườn và Biên cũng vậy rồi cả hai nằm nghỉ. Khoảng 02g chiều tôi đi xuống Xuân Phong, Biên cũng theo tôi đi đến ngay làng Thân và Trung Song, một toán lính canh gác ở đó chận lại, tôi nói, tôi ở nhà bị mất hết gạo và thức ăn rồi nên phải xuống với mẹ và các em, nhưng họ không cho đi mà còn cử một anh bộ đội áp tải chúng tôi về đến cổng Sư Tử giao cho hai anh bộ đội canh gác ở đó. Quái lạ, suốt mấy ngày không thấy anh bộ đội nào ở trong làng ngay cả hôm nay ra đi cũng không thấy mà bây giờ lại xuất hiện ở cổng này nhiều vậy, họ hỏi Biên, Biên nói đi theo bạn đi chơi, gia đình ở nhà nên họ cho Biên về, còn tôi bị giữ lại đó hơn một giờ, sau đó tôi thấy lác đác có người trở về và khi mặt trời sắp gác núi, mẹ và các em tôi xuất hiện. Khi thấy tôi kêu tiếng mẹ, họ cho tôi theo mẹ về nhà. 

Trở lại với đoàn người tập trung họ xuống ở nhà thờ Xuân Phong, ra tới ngã ba đường 7. Sáng hôm sau tin đồn loan đi: tàu đã cập bến trường Thử. Nghe vậy, đoàn người ồ ạt kéo nhau xuống trường Thử cách xa đó hơn một cây số, thế là “bị vô rọ” không thể gặp được ai ngay cả Ủy hội quốc tế đến tìm đều chịu. Từ đó, chung quanh bộ đội canh gác, cán bộ len lỏi vào trong tìm những người họ cho là bất hảo đối với họ để bắt, lôi kéo đánh đập làm cho mọi người sợ hãi phải trở lại nhà. Một cuộc tập trung thất bại, nhưng trong đợt cấm phòng chầu lượt này ở Giáo xứ, chúng tôi thấy xảy ra một hiện tượng lạ cho tới nay chưa thấy nhà khoa học nào giải thích được mà chỉ đọc thấy trong truyện phép lạ ba trẻ ở Fatima là khi mặt trời còn hơn một cây sào nhìn về phía mặt trời không thấy chói mắt mà thấy mặt trời quay như chong chóng quay vầng và khi quay hàng ngàn bong bóng đủ sắc màu từ trong mặt trời bay ra tứ phía, tôi không thấy những bong bóng bay ra khắp bầu trời nhưng khi chầu xong trở về nhà, trời nóng tôi ra ao tắm thì thấy những bong bóng ấy đỗ trên những cành cây tre và những nhánh cây quanh ao.

Sau ngày tập trung trường Thử về, cán bộ đến nhà tôi báo tin: từ hôm nay hằng ngày được đưa cơm cho cha tôi đang bị giam ở làng Thừa Sủng. Liên lạc với chị Vinh xóm Đông, thế là hàng ngày tôi phải đem cơm sang nhà chị và hai chị em cùng đi vì chồng chị cũng bị bắt giam ở đó. Tôi không biết chồng chị bị bắt vì tội gì, ở đâu và tôi cũng không hỏi, khoảng hai tuần khi chúng tôi đưa cơm tới thì chủ nhà cho biết đã giải lên Đô Lương tối hôm trước. Sau đó tôi được biết, đêm khuya cha tôi ở nhà xứ ra về đến đầu ngõ ông kiểm Ngoạt (bố của ông Giản) sau nhà thờ thì bị bắt và kết tội “âm mưu ở nhà để đem cha xứ đi trốn”.

Trở lại với công việc đi Nam của chúng tôi, sau khi tôi viết biên bản và đọc cho mọi người nghe xong, đại diện các bên đều ký vào biên bản. Mẹ tôi thức các em dậy mau ăn cơm, ăn xong mẹ tôi lấy quang gánh một đầu để em út tôi mới chập chững biết đi, đầu kia nồi niêu; quần áo v.v.. Tôi mang theo một “bao ruột tượng” gạo, còn các em tôi tùy theo lớn nhỏ mang gói quần áo của mình và thi thoảng cõng em khi em mỏi chân và chúng tôi rời khỏi nhà nơi chôn nhau cắt rốn. Ra được đường chính giữa làng, chúng tôi gặp vài người đi lễ sớm họ hỏi: “Bay đi Nam rứa rưng?”. Không đợi chúng tôi trả lời họ khóc ầm lên. Chúng tôi đi theo người hướng dẫn nghe tiếng khóc phía sau lưng càng nhiều và lớn tiếng, có lẽ nghe tiếng khóc ấy mà đàn chó cũng sủa vang xóm?

Chúng tôi được hướng dẫn ra tập trung tại đền Trang Cảnh thuộc xóm Chợ Chùa cũ, đền này từ nhà chúng tôi đi về hướng đông men theo bờ ruộng khoảng hơn 200m là đến, nhưng đi theo lộ chính cũng gần một cây số. Khi chúng tôi đến nơi cũng có một số gia đình ở xóm Đông đã có mặt ở đó như gia đình cố Miên, gia đình ông Lai. Ngồi đợi một lúc trời đã sáng, tất cả các gia đình đều có mặt chờ điểm danh đầy đủ, người ta dẫn chúng tôi đi theo lộ trình mấy tháng trước đã đi tập trung trường Thử. Bước lên đường 7 đã có hai xe tải chờ sẵn ở đó, chúng tôi theo thứ tự gia đình để lên xe ổn định chỗ ngồi. Cán bộ đi theo, kêu tên một đứa bé tên Đề khoảng 6,7 tuổi, con không chính thống của bà Nghiêm đi về cuối thùng xe và nói ông Liêm tác giả của đứa bé không cho đi, làm ngỡ ngàng cả xe và buồn thảm cho mẹ nó. Xe bắt đầu lăn bánh, từ làng chúng tôi vào Vinh khoảng 42km nhưng xe chạy quá nửa trưa mới tới, xuống xe chúng tôi được hướng dẫn đi bộ khoảng 3km mới tới nơi tạm nghỉ ngơi. Chúng tôi mỗi gia đình được ở trong một nhà dân và mỗi sáng tập trung lại một mảnh vườn có bờ tre che bóng mát để nghe cán bộ mạn đàm, giải thích, có lần có cả cán bộ miền Nam tập kết cũng mạn đàm với chúng tôi họ nói: ở trong Nam làm thịt cả trẻ con để ăn, vào đó làm dân cạo mủ cao su và chết họ chôn dưới gốc cao su để làm phân cho cây. Nghe mạn đàm xong, mẹ tôi đến đòi hỏi: họ phải trả cha chúng tôi về với gia đình như cán bộ địa phương đã hứa khi nhà ra đi. Đêm thứ 4, khi chúng tôi đang ngủ họ đưa cha tôi về với gia đình, các em tôi ngủ say, tôi nghe cha mẹ tôi nói chuyện với nhau vài câu rồi im lặng, không biết trong đêm khuya cha mẹ có bàn bạc với nhau chuyện gì không mà sáng sớm chúng tôi vừa thức dậy đã thấy cán bộ đến hỏi: anh chị đã nhất trí với nhau gì chưa? Cha tôi có vẻ lo sợ nói với mẹ tôi: “Hay là chúng ta trở về, dù sao ở nhà cũng có căn bản, bây giờ đi nỏ biết ra răng, khổ vợ chồng tội nghiệp con”. Mẹ tôi nghe nói tới đó liền nói: “Khổ cũng đi, chết cũng đi, ông có về thì về một mình, tôi đưa các con tôi đi”. Cha tôi không nói thêm câu nào và hai cán bộ cũng lặng lẽ bỏ đi. Từ đó, họ cũng không còn tập trung mạn đàm ở bờ tre nữa, cùng về với cha tôi có anh Đinh Văn Nghị con bà Nghiêm, người có đứa con bị bắt trở về làng, anh bị bắt khi xuống tập trung trường Thử vì đã đi giải vây cho một số người bị chặn lại khi họ vào khu tập trung, còn những người khác như ông Bản, vợ con sợ không dám đòi hỏi nên gia đình phải cách ly nhau 20 năm sau mới được đoàn tụ.

Ngày hôm sau, cán bộ đến bảo: Mai xe chạy vào Nam, ai đóng tiền thì đi mỗi người tám vạn, ai không đóng thì về, trong chúng tôi không ai đóng ngoại trừ gia đình ông Lai, vì những gia đình đi trước chúng tôi không ai bị trở về hết, gia đình ông Lai đi rồi, chúng tôi ở thêm mấy ngày nữa . ..

Một tối nọ, khi chúng tôi đang ngủ say thì bị thức dậy bảo di chuyển đi nơi khác, chúng tôi lại thu xếp hành lý đi theo người hướng dẫn trong đêm khuya mù mịt, khi chúng tôi trở lại cầu Bến Thủy thấy một hàng xe tải nối đuôi nhau, có lẽ chúng tôi là những người đến sau cùng nên cũng lên hai xe sau cùng, lên xe xong, xe nổ máy chạy trong tối tăm khi đến cửa Hội trời gần sáng. 

Chúng tôi xuống xe thì thấy tàu đang đậu sẵn để đón chúng tôi gần đảo Hòn Ngư, nói là đảo nhưng thật ra đó là một hòn núi lớn ở ngoài biển cách bờ khoảng 01 km. Xuống thuyền đang chờ ở bến, lên thuyền xong họ chở chúng tôi ra tàu lớn. Lên tàu, ông Truy người hướng dẫn chúng tôi từ quê nhà cũng đang dưới thuyền chào chúng tôi, rồi thuyền quay vào bờ. Chúng tôi được hướng dẫn đến một khoang tàu còn trống thiết kế giường nằm đôi. Tôi nằm nghỉ trên giường một chút nghe một hồi còi to và tàu rung chuyển theo hướng vào Nam. 

Hơn một ngày rưỡi, tàu ngừng lại ngoài khơi và có “tàu há mồm” làm trung chuyển chúng tôi vào bờ, chúng tôi được xe nhà binh đợi sẵn chở lên Chợ Cồn cách Đà Nẵng khoảng 8km, đó là đồn binh Pháp đã rút đi tự bao giờ. Ở đây, chúng tôi lượm chai lọ; lon đồ hộp; nón sắt và cả dây điện thoại để làm dây múc nước. Tại nơi đây, khi chúng tôi đang ở Xuân Trường nghe tin người làng đi những đợt trước ở Huế cũng đến ở đây, có ba anh thanh niên mới lớn lượm được một quả lựu đạn mang về chơi nghịch mày mò sao đó khi thấy khói xì ra hoảng sợ ném nó vào trong nhà nổ tung làm bà vợ và con ông Nguyễn Trường Tọa đang ôm con nằm trên võng chết tại chỗ.

Khoảng 02g chiều, có 2 xe nhà binh tới bảo chúng tôi lên xe trở lại tàu vào Sài Gòn theo lệnh cấp trên, gia đình tôi di chuyển trên xe sau cùng. Khi đến cảng Đà Nẵng thì phố đã lên đèn. Chúng tôi xuống ngay tàu đang chờ từ lúc trưa, tàu nhổ neo đi, 2 ngày 3 đêm ngoài biển khơi. Gần sáng đêm thứ 3, chúng tôi thấy có nhiều ánh điện sáng, có người bảo đó là Vũng Tàu, tàu lại ngừng ở đó cho tới khoảng hơn 8 giờ, tàu mới chạy tiếp người ta bảo: tàu ngừng để chờ hoa tiêu ra chạy tàu vô Sài Gòn. Khi tàu chạy trên sông, chúng tôi thấy máy bay “đầm già” bay lượn trên dọc sông như chào đón chúng tôi, sau này mới biết máy bay trinh sát bay đi bảo vệ các tàu qua lại khỏi sự quấy phá của lực lượng Bình Xuyên đang có căn cứ ở Rừng Sác. 

Khi tàu cập cảng Sài Gòn thì trời đã quá nửa chiều, nghe nói xuống tàu mỗi người được phát 800$ và một ổ bánh mì, tôi là một trong những người xuống sau cùng vì tôi phải dìu người o (o Dơn) già cả say sóng không đi được. Xuống khỏi tàu, tôi thấy một dãy bàn ghế có người ở đó nhưng không ai đưa cho chúng tôi cấy chi cả, có lẽ mẹ tôi đã nhận rồi chăng? Lên xe chúng tôi được chở vào thành phố Sài Gòn hoa lệ rồi về Xuân Trường thuộc Linh Xuân Thôn - Thủ Đức. Khi trời đã về đêm, chúng tôi vào trong những lều bạt đã dựng sẵn, sáng hôm sau xe gạo của Tổng ủy di cư chở đến phát cho chúng tôi mỗi người 21kg một tháng, ngoài ra còn nhận được từ cơ quan viện trợ Công giáo Hoa Kỳ cấp cho đường; sữa bột; dầu ăn; phô mát; bột ngô và quần áo, nhiều gia đình trong chúng tôi lần đầu tiên được dùng sữa bột, trước khi đi ngủ lấy đường hòa với sữa quấy đều đun sôi uống, mỗi người làm vài ba bát nên đến khuya đau bụng lại phải ôm quần chạy không kịp, rứa là khiếp. Sau này mới biết, uống sữa với nước đun sôi để nguội mới không phải chạy và bổ dưỡng, chúng tôi thích nhất là bột ngô, khi hơi đói lòng cứ lấy hấn ra quấy lên đun sôi vừa cạn, chế thêm ít bơ, đậy vung lại cho chín, đem xới lên để nguội, vắt từng cục ăn vừa thơm vừa béo lại vừa ngon. 

Ở đây công việc cần phải làm là theo đường lộ lên Dĩ An hay ra đường tàu hỏa hái củ tàu bay khô về nấu ăn, các thanh niên hay vô trong làng dân địa phương mua củ sắn (củ mỳ) về luộc ăn chơi, khi ở ngoài Bắc lâu lâu mẹ tôi mới mua về một khúc chừng nửa củ cắt khoanh chừng 3-4 phân cho chúng tôi, mỗi đứa một khoanh và củ sắn thì trong veo, vào đây một bụi có 2 đồng có khi luộc một nồi không hết, sắn luộc dỡ ra nứt nẻ trắng xóa trông hấp dẫn và ăn ngon vô cùng, còn ai siêng xách giỏ đi lặt hột cao su cách chỗ chúng tôi khoảng non cây số đem về bán mỗi kg = 2 đồng là mua được một bụi sắn (mỳ), có người lặt một buổi 4,5kg, khi chúng tôi đi định cư, nhiều vườn mỳ đã nhổ hết sạch. 

Chúng tôi ở chừng một tháng, các người có trách nhiệm đi các nơi chọn đất để định cư. Cuối cùng chọn được vùng đất bazan BÌNH GIẢ thuộc tỉnh Phước Tuy, vì nơi đây đất đai màu mỡ, rộng và gần Sài Gòn. 

Tôi được cử đi Bình Giả đầu tiên cùng 4 người nữa là ông Dơn, Ông Quy, Anh Vân và Anh Ba Lượu. Xe tải nhỏ chở chúng tôi lên, khi ra khỏi Hòa Long là thấy rừng cao su bạt ngàn, chạy thẳng tới Ngãi Giao tôi liên tưởng đến câu nói của cán bộ miền Nam tập kết, xe rẽ vào Bình Giả, hai bên đường cây cối rậm rạp có nhiều cây ngã ra đường như muốn chặn xe, chúng tôi đang chạy trong mưa và thỉnh thoảng nghe bánh xe lội nước, khi xe chúng tôi tới trung tâm làng một, có người dẫn chúng tôi vào lán đã làm sẵn gần ngõ vào nhà cha Kiều, lán phía tay phải là của Ban chỉ huy trại do ông già Hương (trưởng trại); ông Hoàng; thầy trò ông kỹ sư Thái và một người nấu ăn. Khi yên vị trong lán trại, người đầu bếp đưa gạo, cá khô và nồi niêu để chúng tôi nấu cơm ăn. Sáng hôm sau, sau bữa cơm sáng ông Hoàng cho biết nhiệm vụ của chúng tôi là phát đường cho ông kỹ sư Thái và một trắc địa viên đo đạc. Chúng tôi phân công nhau: ông Quy, ông Dơn mỗi người một dao phát nơi cỏ rậm, nơi cỏ thẹn để lấy đường đi theo hướng nhắm. Anh Vân lãnh búa chặt những cây nhỏ làm cản trở tầm ngắm. Anh Ba ở lán nấu ăn và chặt tre, chẻ từng thanh làm cọc, còn tôi ôm bó cọc theo người trắc địa để cắm những nơi để cọc ngắm xong, công việc chúng tôi chỉ làm buổi sáng vì buổi chiều thường hay mưa, những buổi chiều trời mưa chúng tôi thường đan thúng mủng, nói chuyện với nhau. Có một hôm trời âm u, mưa rả rích, chúng tôi đang ngồi đan lát anh Ba Lượu mới nói vui: “Trời mưa lạnh ra ri mà có mệ hấn ở đây thì thích lắm hầy”, ông Dơn ngồi vuốt cạp thúng kế bên, cầm thanh tre đang vót đập cho một phát sau lưng anh Ba và nói: “Người nhớp nhúa nói chuyện dâm dục”, anh Vân thì cười ngất còn anh Ba thì im thin thít suốt cả buổi ấy.

Ngày chúa nhật được nghỉ, có cha người Pháp từ Bình Ba đến làm lễ cho chúng tôi, lễ xong chúng tôi vào làng thiểu ở Bàu Trơ mua ngô (bắp) về rang, cũng có lần mua gà về cải thiện bữa ăn. Ở đây, gà họ bán theo con, con lớn hai chục đồng, con nhỏ cũng hai chục. Chúng tôi nói với họ: con này nhỏ, họ bảo: thì để mai mốt lớn đến bắt. Chúng tôi làm việc ở đây khoảng bốn tuần lễ, xe lại chở chúng tôi về lại Xuân Trường. Tôi nhớ không lầm, sau khi xem lễ Các Thánh xong xe tới chở tất cả đi di cư BÌNH GIẢ, chỉ trừ mẹ con bà Hóa ở lại vì chị Kinh (vợ ông Cậy) bịnh chết ở nhà thương Nam Việt, nay là bệnh viện Chợ Rẫy …

Kết quả hình ảnh cho bình giả xưaXe chở chúng tôi lên BÌNH GIẢ và cho chúng tôi xuống theo từng vị trí các họ đạo đã được bắt thăm trước, người ta không chia theo quần thể tôn giáo mà chia theo thế địa lý thuộc địa. Con đường từ ngã ba Ngãi Giao vào Bình Giả theo hướng đông nam từ cây số 1,300 đến km 3,200 phía nam là Giáo xứ Vinh Hà từ km 1,800 đến km 4,000 phía bắc là Giáo xứ Vinh Châu chỉ có Giáo xứ Vinh Trung là ở cả hai bên trục lộ đông tây dài khoảng 1km. (Thật là bất tiện khi người Giáo xứ Vinh Châu ở ngay trước cổng nhà thờ Giáo xứ Vinh Hà mà hàng ngày vẫn phải lội hơn 1km đến nhà thờ giáo xứ mình và ngược lại người của Giáo xứ Vinh Hà cũng vậy. Sự phân chia này gây nhiều trăn trở cho các đấng bản quyền nhưng mãi tới năm 1986 Đức giám mục Giáo phận Xuân Lộc Đaminh Nguyễn Văn Lãng mới quyết định chia xứ lại lấy họ Vĩnh Hòa và Phi Lộc nhập vào Vinh Hà và họ Gia Hòa và Văn Yên nhập vào Vinh Châu. Như vậy, từ nay tên gọi Vinh Hà, Vinh Châu không còn thuần túy là người theo địa danh tên gọi ngoài Bắc nữa và từ Vinh Hà là người Vinh gốc Hà Tĩnh và người Vinh Châu là người Vinh gốc phủ Diễn Châu Nghệ An. Quyết định phân chia này cũng gây bức xúc cho nhiều người một thời gian, nhưng sau thấy mọi thuận tiện cho sự sinh hoạt của giáo đân và các đấng bản quyền nên sự hòa nhập mau chóng trở lại bình thường).

(nhà thờ bạt tại Gx Vinh Châu 1955)

Sau khi dựng lều bạt tạm trú xong, chúng tôi làm nhà theo đơn vị Giáo họ, nét nhà bằng gỗ được nhà thầu chở tới, những người biết làm mộc thì sắp xếp và dựng, những người khác thì làm theo tổ, như các ông thì chẻ tre; làm phên; làm hèm tranh; làm rui … các bà lớn tuổi đánh tranh, các thanh nữ cắt tranh còn thanh niên như tôi đi chặt tre và chuyển về địa điểm tập kết cho người có trách nhiệm xử lý nó. Sau thời gian chặt tre xong, lớp thanh niên nam nữ đi lấy lá kè về thưng phên, công việc làm nhà chúng tôi thực hiện trong vòng 4 tháng thì hoàn tất, và sau đó bắt thăm chỗ ở cho từng gia đình và ra định cư theo số nhà mình bắt thăm được và bắt đầu dọn đất sản xuất. Trước khi ra nhà, mỗi gia đình đều được cấp các dụng cụ sản xuất như cày; cuốc; dao; búa; liềm; gạo thóc v.v.. chờ tới ngày thu hoạch nông sản ...

Tuy còn nhiều khó khăn vì thời cuộc, nhất là những năm chiến tranh ác liệt (1960-1975) nhưng cuộc sống của bà con ta luôn được an đủ thanh bình. Chúa Mẹ yêu thương quan phòng, mọi người biết nương tựa vào nhau, trên dưới một lòng. Nhất là tinh thần sốt mến đạo đức của người dân Vinh được phát huy mạnh mẽ nơi các sinh hoạt của Giáo xứ.

Thời gian sau này, đáng mừng là Quê mình đã phát triển hơn xưa về nhiều mặt, đó cũng là điều bình thường thôi “Con hơn cha là nhà có phúc”. Nhưng cũng có những điều làm buồn lòng tiền nhân vì một số nét sinh hoạt đặc trưng quý hiếm bị biến dạng, bản chất của người dân gốc Vinh ít nhiều cũng phai nhạt …!!!

Tuổi đời nay đã cao, tôi chỉ dám mơ ước một điều là: anh em con cháu sau này dù có ở nơi nao, giàu sang hay đói khổ như thế nào xin hãy nhớ cho một điều. Chính nơi đây BÌNH GIẢ thân yêu này đã thấm đẫm bao mồ hôi nước mắt và công khó của cha ông, chính họ đã ra sức xây dựng và giữ gìn những gì là tốt đẹp nhất cho con cháu. Ta phải biết trân quý và cố mà giữ lấy cho hôm nay và truyền mãi về sau.


Fx. Đinh Huỳnh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top