Sau gần nửa năm vất vả xây dựng nhà cửa, cuộc sống định cư đã đi vào ổn định, dân Bình Giả bước vào lao động sản xuất; nhưng vẫn không bao giờ quên lãng việc thờ phượng kính mến Chúa. Hằng ngày hai buổi sáng tối cha ông ta vẫn đến thánh đường cảm tạ hồng ân Ngài ban và xin ơn lành, bất kỳ trời nắng hay mưa thánh đường đều kín chỗ. Thời đó, như chúng ta đã biết, đường nhựa không có, đường sỏi cũng không, mà đất thì mến người vô cùng!? Mình bước đi, đất muốn giữ lại, nhất là những ông bà đi dép, chân người và đất tranh nhau, nhiều khi làm cho đôi dép bị bức tử; mua đôi dép về gặp trời mưa đi chưa được mươi bước, đôi dép đã trở thành phế thải, nó sinh ra đã không làm tròn bổn phận phục vụ bàn chân con người. Nhiều bậc cha ông vì thương đôi dép đã không để nó phục vụ mình mà làm ngược lại, nâng niu nó trên tay cho tới khi đến nhà thờ mới bỏ nó xuống và tự hủy hoại đôi chân mình, chiến đấu với đất và lôi nó vào sân nhà thờ mới cho nó nằm lại vì thế sân nhà thờ sau một mùa mưa đất cao lên cả tấc. Vì thế, Cha Xứ sợ cứ để thế này trong ít năm nước ngoài sân có chảy vào trong nhà thờ nên các Ngài vội vã cho xây mấy hồ nước để giáo dân sớm tối đến xem lễ, cầu nguyện có nước đẩy bùn đất ra xa. Đường đi là thế nhưng lòng kính Chúa, yêu người không suy giảm. Ngoài những giờ kinh lễ ở nhà thờ, sau giờ đọc kinh tối, còn về đọc kinh luân phiên, mỗi tối một gia đình, tại đây sau giờ kinh gia đình họ ngồi lại hàn huyên tâm sự, ăn trầu, uống chè chát và có thể ăn những thổ sản mà gia đình ấy làm ra, quên đi những mệt nhọc trong ngày và trở về với tâm hồn thoải mái, giấc ngủ an lành.

Trở lại với công việc sản xuất, mùa đầu tiên chủ yếu là những cây ngắn ngày như: ngô (bắp); lạc (đậu phộng); đậu xanh v.v.. trong diện tích đất được cấp, vì đa phần bà con vẫn có ý định sẽ trở về quê hương ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Hai năm sau ngày kí hiệp định Giơ-ne-vơ, vì thế những cây trồng dài ngày phần lớn đều bị bạn bè, anh em nhổ bỏ trước mặt người trồng nhưng không ai phản ứng gì. Sự kiện mong đợi đó đã không xảy ra và sau đó cha ông ta mới phát thêm rãy, mở rộng diện tích canh tác, tăng cường sản xuất và bắt đầu trồng lại cây dài ngày. Khi thành quả lao động đã đến ngày thu hoạch thì mối giao thương mới bắt đầu mở ra tiếp xúc với bên ngoài, cha ông chúng ta đã ứng xử với nhau thế nào để lại tiếng thơm cho con cháu, tôi xin trình bày một vài gương điển hình sau đây:

Vụ mùa đầu tiên trên đất Bình Giả, gia đình tôi cũng như mọi người trồng bắp trắng, khi thu hoạch bẻ bắp tươi bán mỗi xe là 100đ; vụ hai gia đình tôi trỉa lại, khi lạc ra hoa chúng tôi ra vun gốc, tôi thấy cây bắp đã khô để lộ nhiều đất trống nên lấy hạt bí đao được cấp phát ra trỉa, ngày thu hoạch rau bí mới bỏ ngọn, tôi nghĩ mùa nắng đã hơn một tháng mà bí mới như thế này chắc bị héo khô theo thời gian nên coi như không có nó trên đời, chắc mẹ tôi cũng cùng quan điểm nên chẳng đoái hoài gì cả, đến gần nửa tháng chạp, O Niêm vào nhà tôi báo ra mà hái bí về bán tết, nó nằm lăn trắng xóa như heo ngoài đó. Mẹ tôi mới mang gánh ra hái, gánh đầu tiên chỉ gánh được 4 trái, đem ra chợ bán được 40 đồng, mừng quá mẹ tôi hái gánh về nhà bán mỗi phiên chợ, mỗi ngày giá trị lại càng cao, ngày cuối cùng 27 tết mẹ tôi ra vườn hái những trái định bỏ vì vừa nhỏ lại bị tật, nhưng những trái đó lại có giá cao nhất 30 đồng một trái. Tổng cộng hàng bí ấy mẹ bán được 1.800 đồng (bằng 18 xe bò bắp, không cha mẹ tôi nghĩ sao, đem hết số tiền đó ra tiệm xe Hoàng Vệ ở Văn Yên mua cho tôi chiếc xe đạp tất cả đều sản xuất tại Pháp, có chuông reo, phanh lam, đèn Saviot, để tôi làm phương tiện đi chặt tre, thường người ta chỉ ráp xe từ 900 đến 1.200 đồng là cùng. Tôi dùng nó một thời gian ngắn rồi đi học sau đó đi lang bạt tới năm 1972 mới về lại Bình Giả, cha tôi sử dụng nó gần 30 năm nó mới rồi gia đình chúng tôi về cuối đời nó không còn bóng loáng như xưa mà chỉ là chiếc xe tàn tạ, nhưng ngồi trên nó đạp đi vẫn nhẹ nhàng hơn xe mới ráp sau này dù 30 năm qua chưa một lần thay bi, bơm nhớt cho nó. 

Chuyện thứ 2: Cạnh nhà tôi có có chị tên Diệm, chồng đi làm xa, chị ở nhà bán hàng xén ngoài chợ, thỉnh thoảng chị đi Sài Gòn lấy hàng, mỗi lần đi chị mang một túi của (tài sản quý) sang gửi mẹ tôi, lần đầu mẹ tôi không dám nhận, vì nhà không có khóa và không có ai coi nhà lỡ mất thì răng đây? Chị trả lời: “mất thì thôi” nên mẹ tôi nhận, có lần tôi hỏi mẹ: “Chị gởi gì trong đó?” mẹ tôi nói: “Có lẽ có vàng, thấy túi nặng nặng”, lạ thật, chị đem đi Sài gòn thì sợ mất, gởi ở nhà lại không có cửa khóa lại không lo, còn người nhận cũng không biết người ta gửi cái gì, không phòng sự bất trắc, tin tưởng nhau như thế là cùng.

Chuyện thứ 3: Ông Đinh Tám ở Bình Giả đến năm 1965 đi Vũng tàu ở, sau 30/04/1975 ông trở lại Bình Giả mua hai xào đất lúa, đến ngày thu hoạch ông mượn xe chở lúa, vì phải trả xe cho chủ đi chở lúa nhà nên ông phải về sớm. Khi xe về tới nhà mất một bao ông rên rỉ “thế là mất một tháng ăn, nhà nghèo lại mắc lấy eo”, ông buồn đêm không ngủ được, sáng hôm sau phải đi làm cho xong, chưa tới khúc quanh vào ruộng ông, ông thấy bao lúa nằm bên vệ đường, ông kêu bao lúa của tôi, tên Tám trên bao, mọi sự y nguyên, chỉ có những hạt sương đêm làm ướt mặt bao trên, ông ôm chầm bao lúa vui mừng hét lên: “Ôi! Bao lúa của tôi”, có lẽ lúc đó lòng ông sướng hơn Chúa tìm được con chiên lạc trong phúc âm?

Chuyện thứ 4: Trước mặt nhà tôi có anh bạn đi làm về thấy hai bao đậu phộng nằm chắn ngang ngõ vào nhà anh, anh dựng nó bên cột cổng, tối lại không thấy ai lấy, anh đưa nó vào thềm để mấy ngày nữa cũng không thấy ai hỏi han, anh định trình Cha cho rao giữa nhà thờ ai mất đến nhận, nhưng nhìn bao lạc anh thấy không phải bao lạc đậu thường dùng, anh nghĩ bao này chỉ có thương nghiệp mới có và ở trong Họ này chỉ có hai người buôn bán với thương nghiệp là Bà Thân và Bà Nhiên, nhà Bà Thân thì ở gần đây, anh đến hỏi Bà Thân có mất một bao lạc không, bà vui mừng nói: Bữa thứ hai tôi đong được mấy thùng ở Đông Yên, ông ấy chở về nhà rớt mất hai bao, tôi nói ông đi tìm, ông bảo “rớt giữa đường làm gì còn mà tìm cho mất công”, nên ông ấy không đi, may quá cậu được và trả và bà hỏi: “Tại sao cậu biết là của tôi?”, tôi trả lời: “Dân Bình Giả xưa nay không ai dùng bao này cả, tôi đoán chỉ có bên thương nghiệp mới dùng và bà là người dân buôn với thương nghiệp nên tôi nghi và hỏi”, bà nói tiếp “Ở với người mình sướng rứa đó” và bà bảo ông chồng đưa xe đi lấy lạc.

Còn những người thường xuyên giao tiếp và buôn bán với ta, cha ông ta ứng xử thế nào. Tôi gợi cho một vài mẫu chuyện sau đây:

Chị Nguyễn Thị Thục sống ở họ Văn Yên, chồng đi làm xa, chị ở nhà với đàn con nhỏ nên bao nhiêu đất đai chị thuê người trồng chuối hết, tới hạn thu hoạch chị kêu bạn hàng đến lấy, xe đến chị chuyển chuối chưa xong, phải đợi. Khi hoàn tất bạn hàng giao tiền cho chị rồi vội lên xe về kịp giao hàng cho mối, chị đem tiền về đếm thì dư hơn 1.000 đồng (thời đó thịt heo bán có 25 một kí) sáng hôm sau chị ra chợ trả lại cho chủ của. Còn Bà Lan cũng vậy, nhưng nhận tiền lại thiếu 100 đồng, hôm sau bà ra chợ gặp lại người mua hàng bà nói: Hôm qua giao thiếu tui 100 đồng, khách hàng trả lời: vậy hả rồi nói cười xin lỗi và mau mắn mở giỏ lấy tiền trả lại cho bà, không phân vân một lời: tiền trao cháo múc gì hết, một sự tin nhau hầu như tuyệt đối, ấy có lẽ là những việc xảy ra trước đó như sau:

Chị Sáu người Hòa Long, lấy chồng chưa được bao lâu chồng đi tập kết ra Bắc. Chị buôn mua hàng chợ Bình Giả gần 20 năm, sau 30/4 chồng chị về làm lớn chị mới nghĩ buôn. Có một lần chị chuyển hàng ra đường chờ xe, khi xe tới chị chuyền hàng lên xe, chuyền xong chị vội lên xe về bỏ quên giỏ tiền và những giấy tờ cần bên đường, về tới nhà mới nhớ chị đinh ninh giỏ tiền đã mất nhưng hôm sau chị trở lại chợ thấy giỏ vẫn còn đó, chị kiểm tra lại không mất một thứ gì. Còn chị Tư Bân chuyên chuyển cá lên cho bạn hàng chợ Bình Giả bán. Một lần kia ngồi chờ xe chị thiu thiu ngủ, nghe tiếng còi xe réo chị tỉnh giấc rồi vội vàng mang mấy sọt đựng cá ra xe mà quên mất giỏ tiền để trên sạp. Tối về nhà chị phát hiện ra và đinh ninh là mất giỏ tiền chị tự an ủi mình bằng câu ‘của đi thay người” vì buổi chiều trẻ con xóm chợ thường ra sạp chạy nhảy, vả lại sau khi tan chợ người ta sẽ dọn vệ sinh thu gom rác, giỏ tiền của chị nằm yên trên sạp không thể nằm yên được, thế là sáng hôm sau chị vào chợ thấy giỏ tiền của mìn vẫn nằm yên trên sạp, chị chạy lại ôm giở ra mọi vật dụng và tiền vẫn y nguyên không phi sơ gì cả. Tiền đó chị cũng cân cá cho bạn hàng, chỉ cho bạn hàng biết giá cả mỗi loại, bạn hàng tự cân và cho chị biết số cá họ mua, chị chỉ ngồi bán số cá mà bạn hàng không lấy hết và ngồi chờ giãn chợ, họ đến thanh toán tiền cho chị. Những việc xảy ra như thế gây tiếng vang cho dân chúng trong tỉnh, ngay cả các công chức trong tỉnh Phước Tuy cũng nghe tiếng.

Năm 1972, tôi có anh bạn làm kế toán tài chính tại một cơ quan trong Tòa hành chánh. Một hôm anh lên trung gian ngân khố rút một số tiền nhỏ (tuy ngân khố đóng tại Vũng Tàu. Bà Rịa chỉ có một phòng trung gian ngân khố) 1.000 đồng, anh cầm tấm ngân phiếu cho ông trưởng phòng, ông xem và bỏ tấm ngân phiếu vào ngăn kéo rồi rút tiền trong két sắt quẳng trước mặt anh, anh cầm xấp bạc đếm, anh thấy dư một tờ, anh đếm lại lần nữa cũng thấy vậy, anh đưa xấp bạc cho ông và nói “xin ông đếm lại” ông bất ngờ vội cầm lên đếm ông thấy dư một tờ, liền mở kim găm lấy tờ dư ra rồi trao lại xấp bạc cho anh, anh cầm và nói lời cảm ơn rồi đi ra. Còn ông thì mắng cô nhân viên là con gái ông bất cẩn, phận sự của cô là nhận tiền người ta hoàn lại để kết toán chi tiêu tài chính trong tháng như tháng đó có người bỏ sở làm vụ. Cuối ngày tổng kết thu chi và tồn quỹ mà không khớp, ông phải bỏ tiền túi ra bù. Mấy ngày sau ông trưởng cơ quan anh có việc đến gặp, qua câu chuyện, ông ta hỏi: “Anh kế toán tài chánh của Đại Úy là người Bình Giả phải không?” Ông trả lời: phải có gì vậy, Đại Úy là người tinh đời, đã từ lâu tôi nghe tiếng người Bình Giả gặp của để quên không lấy, thấy của rơi không ham, nay tôi mới gặp và ông kể tiếp. Cách đây mấy hôm, anh ta đến rút 1000 đồng, tôi trao cho anh, tôi thấy anh đếm hai lần rồi trao lại cho tôi và nói: “xin ông đếm lại, tôi bất ngờ và làm theo rồi anh đếm dư một trăm, tôi lấy lại tiền rồi trao lại cho anh, anh cầm lấy nói lời cảm ơn rồi đi ra. Tôi nghi anh là người Bình Giả, vì người Bình Giả mới hành động như vậy. Ông tâm sự tiếp: tôi làm nhiệm vụ này hơn 20 năm, thỉnh thoảng có bị thất thoát, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận lại đồng tiền tưởng như đã mất. Qua sự kiện này, mỗi lần có việc, anh đến trung gian ngân khố đều được tiếp niềm nở, giải quyết mau lẹ và luôn được giải quyết ưu tiên khi có nhiều người cùng đến.

Với những sự kiện trên, chúng ta thấy hãnh diện và tự hào về cha ông chúng ta đã thể hiện phải không? Còn chúng ta, chúng ta phải làm gì để lại dấu ấn cho con cháu sau này? Đi theo bước cha ông, hay đó là chuyện của thời xưa?

Fx. Đinh Huỳnh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin Quý Độc giả vui lòng sử dụng Tiếng Việt có dấu.
Chèn hình ảnh: [img]link hình ảnh[/img]
Chèn youtube: [youtube]http://www.youtube.com/watch?v=ID youtube[/youtube]

 
Top